Quan hệ giữa người chăm sóc và người được chăm sóc (CÁN BỘ Y TẾ & BỆNH NHÂN)

Quan hệ giữa người chăm sóc và người được chăm sóc (CÁN BỘ Y TẾ & BỆNH NHÂN)

                                                                                  BS. Phạm Ngọc Thanh

 

Thế nào là chăm sóc ?

CHĂM SÓC là ân cần quan tâm đến kẻ khác, có nghĩa người chăm sóc (cán bộ y tế) là một người chú ư đến nhu cầu của bệnh nhân.

Ai là người chăm sóc ?

Bệnh viện có ba bộ phận hoạt động  :

-          bộ phận y : bác sĩ, bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ tâm thần, bác sĩ gây mê...

-          bộ phận cận y : điều dưỡng, hộ lư, cô nuôi dạy trẻ, nữ hộ sinh, nhà liệu pháp vận động, nhà tâm lư...

-          và bộ phận phụ : thư kư, kỹ thuật viên, nhân viên  xă hội, giáo dục viên, nhân viên phục vụ... 

Nhiệm vụ của bác sĩ ?

Kỹ năng của người chăm sóc :

Bác sĩ : quan sát các triệu chứng của bệnh nhân (kiểm tra lâm sàng), chẩn đoán (= biết bệnh qua các dấu hiệu hoặc triệu chứng) để cuối cùng đưa ra phương thức chữa trị (hướng điều trị).

Đó là « biết làm » (tinh thông) của bác sĩ, khả năng chuyên môn. Song song với sự « biết làm », mỗi bác sĩ có cách chăm sóc theo riêng ḿnh : tiếp cận, tiếp đón, nói chuyện với bệnh nhân... mà người ta gọi là « biết sống », có nghĩa là kỹ năng giao tiếp của vị bác sĩ. Trong công việc hằng ngày cho thấy tính chất quan hệ bác sĩ - bệnh nhân có ảnh hưởng đến việc chấp nhận chữa trị, đưa đến chất lượng chăm sóc y khoa.  

Ví dụ, nghiên cứu áp dụng qui định y khoa (luận án của Bác sĩ Y.Matillon, Pháp) : điều tiên quyết bệnh nhân phải áp dụng việc chữa trị đúng như y lệnh (= áp dụng qui định việc chữa trị hay là chấp nhận). Tuy nhiên, một nghiên cứu trong khoa nội trú, cho thấy chỉ 15% trường hợp tuân thủ một cách nghiêm túc việc chữa trị. Số c̣n lại sửa đổi toa thuốc, bỏ vài loại thuốc, tăng liều lượng vài thứ khác hoặc thêm vài loại khác...Một trong các lư do của hiện tượng này, đă được chứng minh, là có liên quan đến quan hệ người chăm sóc - đựơc chăm sóc. Áp dụng việc chữa trị sẽ tốt hơn nếu y lệnh dễ hiểu và có sự giao tiếp dễ dàng giữa bác sĩ và bệnh nhân. 

Cho nên trong công việc, bác sĩ chẳng những nên quan tâm đến bệnh của bệnh nhân mà c̣n chính con người của bệnh nhân, với mục đích làm sao việc điều trị có hiệu quả.

I- NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ BỆNH NHÂN : MỘT QUÁ TR̀NH QUAN HỆ

Ngày làm việc của nhân viên y tế có thể xem như thời gian trải qua cùng lúc hai cuộc phiêu lưu : Phiêu lưu về kỹ thuật  với việc thích thú thăm ḍ (chẩn đoán) hoặc thỏa măn trong việc biết xử lư các qui tŕnh chăm sóc (điều trị). Phiêu lưu về quan hệ với các bệnh nhân khác nhau, các trao đổi phong phú, thường có tâm trạng đă góp phần cho sự thoải mái của bệnh nhân...V́ thế, đối với nhân viên y tế, khía cạnh quan hệ trong nghề nghiệp, song song việc đối phó căn bệnh, có tiềm ẩn một không gian thích thú, lợi ích và sáng tạo.

Tuy nhiên, trong nghề nghiệp y khoa, quan hệ với bệnh nhân c̣n ảnh hưởng bởi đau khổ, sự chết. Có thể gây khó khăn cho nhân viên y tế và đưa đến sự chán nản.

V́ lư do đó, chúng ta sẽ cùng làm việc trên khía cạnh nhân văn trong hoạt động y khoa để phản ứng tốt hơn khi đối mặt với những t́nh huống khó khăn.

1.Nền tảng của quan hệ

Các đối tác

- Muốn có quan hệ, ít ra phải có hai người.

Đối với chúng ta, có thể là quan hệ bác sĩ nhi khoa và một bé gái nhập viện hoặc bác sĩ khoa sản với một bà mẹ tương lai.

- Quan hệ nhân viên y tế-bệnh nhân là một quan hệ bất b́nh đẳng. Thật vậy, sự việc bắt đầu từ một đối tượng đau khổ đến với một đối tượng được cho rằng có kiến thức, có khả năng chữa được bệnh. Bệnh nhân mong chờ quyền năng chữa bệnh của bác sĩ hoặc ít ra cũng làm giảm được bệnh, và ta có thể nói rằng, bác sĩ giúp và bảo vệ bệnh nhân. Về phía bác sĩ, quyền năng này có thể làm cho bác sĩ có tâm trạng tự cao hoặc trái lại trở thành một yếu tố stress cho bác sĩ. Cho nên phải ư thức được sự việc để giới hạn tác dụng (Vd. : bác sĩ bị stress, do áp lực mong chờ của cha mẹ mau chữa lành cho con họ).    

Giao tiếp

- Trong tất cả mọi quan hệ, thường xuyên có trao đổi thông tin giữa người này với người kia, tùy thuộc vào mục đích. Trong trao đổi giữa người chăm sóc - người được chăm sóc, mục đích của quan hệ là vấn đề chăm sóc. Mọi hành động, mọi thao tác kỹ thuật hoặc giúp thoải mái đều nằm trong quan hệ người chăm sóc - được chăm sóc. Những trao đổi thông tin là nền tảng của giao tiếp

Chúng ta là những con người, chúng ta có nhiều cách giao tiếp :

- giao tiếp bằng lời : lời nói, các từ, diễn văn...tất cả những ǵ dùng lời nói.

- giao tiếp không lời : cử chỉ và thái độ (bắt tay chào), bắt chước (nét mặt : nụ cười, nhăn mặt ; ánh nh́n : chau mày, ánh nh́n thoáng qua), chạm vào (cách lấy nhiệt, tiêm vắcxin hoặc bồng một nhũ nhi), các tư thế cơ thể (giảm căng, co rút), khoảng cách (đến thật gần hoặc giữ một khoảng cách với người khác), ngữ điệu của tiếng nói, các vật phụ (áo choàng, dụng cụ như ống tiêm ...)...tất cả những ǵ cơ thể biểu hiện.

Các yếu tố giao tiếp không lời th́ nhiều và người ta có thể dùng toàn thân để nói chuyện (ngôn ngữ cơ thể). 

- Mỗi bác sĩ có thể nhận thấy vài khác biệt giữa điều nói và điều bệnh nhân làm cho cảm nhận. 

Ví dụ : Khi ta hỏi hôm nay khá không, bệnh nhân nội trú nói khá nhưng lại nhăn mặt và ôm bụng !

- Về phía bệnh nhân, ngoài điều bác sĩ nói, bệnh nhân cũng nhạy cảm với biểu lộ của bác sĩ .

Ví dụ : Bệnh nhân nói : « khi tôi hỏi bác sĩ khi nào tôi có thể về nhà, tôi thấy bác sĩ ngập ngừng và cảm thấy bác sĩ lúng túng »

- Ta đi vào quan hệ chẳng những bằng lời nói, bằng cơ thể mà c̣n bằng cảm xúc (= trạng thái cảm xúc có nghĩa t́nh cảm và xúc động). Trạng thái này luôn luôn hiện hữu và có thể xuất hiện bất cứ lúc nào.

Ví dụ : Bác sĩ cảm thấy bất ổn khi một bệnh nhân hỏi có qua khỏi không, cái cảm giác này có thể biểu lộ bằng đỏ mặt.

Cảm xúc của chúng ta liên quan đến văn hoá, giáo dục, lịch sử...của chúng ta, tóm lại, nhân cách của chúng ta. Có nghĩa là một sự quan hệ, là một cuộc gặp gỡ giữa hai tính cách, hai nhân cách.

- Khi hai nhân cách gặp nhau, có thể có khó khăn trong quan hệ. Ví dụ, vài bệnh nhân có thể cảm nhận sự lo hăi và đặt nhiều câu hỏi cho bác sĩ. Các t́nh huống này thúc ép bác sĩ phát triển kỹ năng quan hệ làm sao cho t́nh huống tiến triển. Đó là t́m một h́nh thức thỏa hiệp, giữa chờ đợi của bệnh nhân & trả lời của người chăm sóc.

2.Nhân cách của người chăm sóc khi gặp bệnh nhân

Ta thấy phần trên nói về quan hệ người chăm sóc - được chăm sóc là một t́nh huống giao tiếp giữa hai nhân cách.

Ở đây, chúng ta sẽ đề cập đặc biệt t́nh cảm có thể người chăm sóc cảm nhận để rồi các bạn có thể đồng nhất hoá ở nơi các bạn. Thật vậy, một sự hiểu biết tốt nhất chính ḿnh sẽ giúp các bạn trong quan hệ nghề nghiệp đó là quan hệ người chăm sóc - được chăm sóc :

- thấu hiểu nhu cầu bệnh nhân

- thích nghi thái độ và trả lời

- VÀ NHƯ VẬY chăm sóc tốt hơn.         

Tâm trạng tự tôn (tự cao)

Có thể do : chiếc áo choàng đánh dấu giá trị của chức vụ, một kiến thức y khoa, một quyền lực nghề nghiệp trong vai tṛ bác sĩ hoặc trong thực hành các thao tác kỹ thuật. 

Với tâm trạng này tạo cho bác sĩ sự tự tin, điều cần thiết trong quan hệ chăm sóc mà hệ quả là thực thi các hành động chăm sóc. Đó là mặt tích cực của tâm trạng tự tôn.

Chỉ sợ lạm dụng ưu thế đối với bệnh nhân, là những con người xa lạ trong môi trường y khoa với các từ chuyên môn. Bệnh nhân cần cảm thấy được chăm sóc bởi người tài giỏi nhưng cũng muốn được chia sẻ sự hiểu biết về bệnh, việc điều trị... : người chăm sóc nên dành thời gian để giải thích bệnh, việc chữa trị, c̣n bác sĩ săn khoa là các giai đoạn sanh đẻ... với các từ rơ ràng và đơn giản.

Quá tŕnh chăm sóc cần một sự hợp tác tích cực giữa người chăm sóc - người được chăm sóc.             

Tâm trạng bất lực

Trái với tâm trạng tự cao, ta gặp phải tâm trạng bất lực.

Tâm trạng này khi gặp phải vài bệnh lư nan y hoặc đưa đến tử vong.

Có thể kèm theo tâm trạng tự ti :

Ví dụ : Bà A, bác sĩ khoa nhi ung bướu – Sau khi rời pḥng một bệnh nhân, gặp một đồng nghiệp, bà nói  với vẻ tuyệt vọng : «  tôi không thể làm dịu cơn đau cho bé Vân... » 

Tâm trạng bất lực có thể có hai hậu quả :

- gây ra sự mệt mỏi (mệt, suy yếu), sự tuyệt vọng (« tôi không làm ǵ được cả »)

- thúc đẩy người chăm sóc làm nhiều hơn, t́nh trạng tăng động.

Trong cả hai trường hợp, người chăm sóc chỉ được giải toả với sự nâng đỡ của các đồng nghiệp hoặc với các nhà chuyên môn khác nếu có thể.    

Tâm trạng có trách nhiệm ( chịu trách nhiệm là phải bảo đảm hành động của ḿnh, hành động của ai đó hoặc quyết định của ḿnh).

Trách nhiệm là cần thiết trong công việc chăm sóc và cũng là một gánh nặng.

Vài người chăm sóc tự gắn bó và ghi khắc trong ḷng t́nh huống của một bệnh nhân.

Ví dụ : Bà B, bác sĩ nội trú khoa sơ sinh : «Khi tôi khám bé sanh non này, liền nhớ đến con trai tôi cũng sanh thiếu tháng, thế là tim tôi se thắt lại ». 

Phải có những qui luật, nguyên lư trong môi trường chăm sóc, phục vụ, giới hạn sự tập trung tâm năng cá nhân quá lớn. Nhưng làm thế nào hoàn toàn không cảm nhận ? Ta có thể tránh xúc động sao ?...tôi nghĩ là không . Cho nên gần với bệnh nhân nhưng vẫn giữ một khoảng cách.

Các xúc động đi kèm với tâm trạng này : sự thông cảm, sự lo lắng, sự sợ hăi, sự gắn bó, sự giận dữ, sự phiền muộn.       

Tâm trạng chán nản

Về mặt vật chất, bị bó buộc giờ giấc, chăm sóc số lượng bệnh nhân quá lớn, môi trường, thất bại, không được biết ơn và kính trọng, phiền muộn...về lâu về dài có thể kéo theo sự chán nản.

Có thể dẫn đến t́nh trạng kiệt sức(burn out) liên quan đến stress nghề nghiệp. Tuy nhiên, chuyện đôi lúc cảm thấy chán nản là thường.

Các xúc động kèm theo tâm trạng này : mệt mỏi, mất hứng, stress, tuyệt vọng, sợ hăi, tức giận đến độ chán ngấy.

Tâm trạng thỏa măn

Có thể bắt nguồn từ muôn vàn lư do. Ta có thể kể ra nào là bồi dưỡng cá nhân (phần thưởng) do quan hệ tốt với bệnh nhân, điều trị thành công, khả năng tiến bộ...

Các xúc động kèm theo tâm trạng này : vui mừng, yên ḷng, năng động, độ lượng, nồng nhiệt, thông cảm, t́nh bằng hữu. 

Kết luận : Không thể tránh né các tâm trạng này một cách tuyệt đối,  nhưng chủ yếu là cân bằng  các tâm trạng, các xúc động để tránh các rắc rối trong quan hệ.

Giúp người, cũng có nghĩa có khả năng nhờ giúp đỡ, t́m một chỗ dựa hoặc đơn giản t́m một lời khuyên. Không phải là dấu chỉ của sự yếu đuối khi đôi lúc cảm thấy bất lực hoặc chán nản. Sợ người khác xét đoán, người ta không chịu lắng nghe cũng làm cho việc t́m kiếm giải pháp cải thiện bị ḱm hăm.

Vài phương cách : hội họp, nhóm chia sẻ, huấn luyện, đọc sách nghiên cứu.

II Quan hệ giúp đỡ trong chăm sóc y khoa

Thường người ta nghĩ giao tiếp, giải thích...làm mất thời giờ và dễ dàng hơn cả, không mất thời gian  là ra lệnh không cần giải thích chẳng bàn căi. Nhưng phải hiểu là mọi tiến bộ, mọi thành công của một tổ chức đều qua sự quan hệ người này với người kia.

1. Định nghĩa quan hệ giúp đỡ

Quan hệ giúp đỡ trong chăm sóc y khoa là phương tiện giúp bệnh nhân cùng sống với bệnh và hệ quả của nó trong cuộc sống riêng tư, gia đ́nh, xă hội và nghề nghiệp.

Phương tiện chính thường là quan hệ người chăm sóc - người được chăm sóc hơn là đáp ứng kỹ thuật cho triệu chứng hoặc cho bệnh.

Dựa trên sự phát triển quan hệ tin tưởng giữa người chăm sóc và bệnh nhân. Với mục đích đó, vài điều luật phải được tuân thủ như tính xác thực ( trung thực và rơ ràng, không nói dối), đồng cảm và không xét đoán.

Mục đích quan hệ gíúp đỡ là thay đổi bệnh nhân (trong kiểm soát bệnh, sức khoẻ và rộng hơn nữa cuộc sống của họ) và tùy thuộc vào vấn đề của bệnh nhân.

Hiệu quả của quan hệ giúp đỡ :

- đạt được sự giảm bớt xúc động, nhờ lời nói, biết lắng nghe bệnh nhân,

- một sự hiểu biết tốt hơn đ́ều ǵ xảy ra hoặc hơn thế nữa khám phá điều ǵ đó ở bệnh nhân, tiểu sử của họ.

2.Lắng nghe

LẮNG NGHE : Tập trung quan tâm đến người khác.

Lắng nghe có hiệu quả chữa trị cho ai được lắng nghe, có thể giải bày và nói lên được khó khăn của ḿnh.

Thật vậy, khi tôi cảm thấy được lắng nghe :

- tôi cảm thấy được nâng đỡ trong lúc khó khăn

- tôi cảm thấy được thừa nhận là một con người xứng đáng được tôn trọng và quan tâm.

Lắng nghe bệnh nhân, ngoài ngôn từ c̣n hành vi của họ, đem lại cho họ một sự khuây khoả có lợi cho công việc chăm sóc.

 

3.Đồng cảm

ĐỒNG CẢM : Khả năng đặt ḿnh ở vị trí người khác, cảm thông t́nh cảm và xúc động của họ.

Đồng cảm là kết quả của sự lắng nghe đích thực bệnh nhân.

Luôn được biểu lộ trong cuộc sống hằng ngày, khi chúng ta xúc động (cười hoặc khóc) ví dụ, khi xem phim.

Bị xúc động điều xảy ra với người mà tôi quan tâm và chăm chú lắng nghe. Vừa gắn bó vừa giữ một khoảng cách.

Ta sẽ hiểu lợi ích của sự biết ḿnh, điểm mạnh điểm yếu, nhận biết phản ứng của ḿnh trong trường hợp nào mà ta có thể chịu đựng được nhiều hay ít, để có khoảng cách tương đối với bệnh nhân  (không là « thân mật như bạn bè », cũng không « lạnh lùng »)

4.Chuyển di và chống chuyển di

Quan hệ giúp đỡ bao hàm sự hiện hữu chuyển di và chống chuyển di.

CHUYỂN DI : tâm trạng của người được chăm sóc đối với người chăm sóc (tập trung tâm năng  cảm xúc)

Chuyển di phản chiếu những cách thức quan hệ mà người được chăm sóc, trong quá khứ, có được nơi cha mẹ hoặc những người chung quanh. Thật vậy, tất cả chúng ta lặp lại các lối quan hệ mà chúng ta không ngờ tới.

Ví dụ : người bệnh nhân chờ bác sĩ trấn an và bảo vệ như chờ một người mẹ bảo bọc. 

Ta phân biệt hai loại chuyển di :

- chuyển di tích cực (Vd : tin tưởng ). Trong trường hợp này, bác sĩ đáp ứng sự mong đợi của bệnh nhân và có khi tự cảm thấy ḿnh là một bác sĩ hoàn hảo.

- chuyển di tiêu cực (Vd : ngờ vực, lo lắng...)

Vd : như lời nói của một bệnh nhân « khi tôi thấy ông bác sĩ c̣n quá trẻ, tóc tai bê bối, tôi thấy lo ngại... »

CHỐNG CHUYỂN DI : Tâm trạng người chăm sóc đối với người được chăm sóc (Vd : tôi nghiệp, ḷng trắc ẩn, chán ngấy...)

Về mặt lư thuyết, bác sĩ phải trung lập. Nhưng trong thực tế, bác sĩ thể hiện tâm trạng cảm xúc với bệnh nhân.

Ta phân biệt hai loại chống chuyển di :

- Chống chuyển di tích cực (Vd. ḷng trắc ẩn, đồng cảm)

- Chống chuyển di tiêu cực (Vd. Chán ngấy, loại bỏ, khiêu khích)

Chống chuyển di tiêu cực có thể biểu hiện nhiều thái độ khác nhau như từ chối lắng nghe bệnh nhân v́ bận quá hoặc nói với bệnh nhân « bực ḿnh » để có khoảng cách với bệnh nhân khó chịu.

Kết luận : Đối với người chăm sóc, là đồng nhất hoá chính phản ứng của ḿnh với phản ứng của bệnh nhân để thấu hiểu điều ǵ xảy ra giữa ḿnh với bệnh nhân và cải thiện sự trải nghiệm của mỗi người.

III- LÀM THẾ NÀO GIAO TIẾP VỚI BỆNH NHÂN ?

Trong công việc của người chăm sóc, bạn đến bắt chuyện với bệnh nhân một cách ít nhiều h́nh thức tùy theo trường hợp.

Công việc người chăm sóc trong tṛ chuyện tùy thuộc loại tṛ chuyện (tiếp đón, ngoài lề, giúp đỡ, y tế...), đơn vị bệnh viện (khoa nhiễm, khoa nhi...), bệnh lư của bệnh nhân. 

1)Vai tṛ người chăm sóc

-Chấp nhận gặp bệnh nhân

Có nghĩa trong tư thế lắng nghe bệnh nhân. Lắng nghe này nằm trong giao tiếp bằng lời và không lời (quan sát lâm sàng thái độ, phản ứng...)

-Lưu tâm đến sự « không hiểu biết » của bệnh nhân

Rất thường bệnh nhân không biết thế giới y khoa với các từ chuyên môn, các kỹ thuật...Cần lưu tâm đến những câu hỏi, lo lắng của bệnh nhân đối mặt với bệnh và việc chữa trị.

-Quan tâm đến hoàn cảnh của bệnh nhân

Một bệnh nhân không chỉ là một bệnh mà trước tiên c̣n là một con người, đàn ông – đàn bà – phụ huynh hoặc là trẻ con, sống một ḿnh hoặc chung gia đ́nh, làm việc hoặc thất nghiệp...Điều quan trọng là đặt để trở lại con người đó trong tiểu sử cá nhân của họ để nắm bắt bệnh xảy ra trong hoàn cảnh nào và hậu quả có thể có trong cuộc sống.

VD. : một bà lớn tuổi bị găy chân, sống một ḿnh từ khi chồng mất

-Biết tôn trọng giới hạn của ḿnh và của bệnh nhân

Nhiệm vụ của bộ phận y tế là chữa trị đau đớn về thề chất và đôi lúc về tâm lư. Tuy nhiên, khả năng chịu đựng đau khổ của người khác có giới hạn. Việc cần thiết là phát hiện trong ta lúc nào đau khổ của kẻ khác trở nên quá nặng nề và có thể làm hoen ố chất lượng chăm sóc.

Bệnh nhân cũng có giới hạn của họ trong khả năng tin tưởng hoặc thổ lộ khó khăn.

Dù biết rằng có những thông tin cần thiết để thiết lập việc chữa trị (Vd. : chuyện quá khứ, tuổi tác), người chăm sóc cần tránh những câu hỏi quá riêng tư (Vd. : « Tại sao ông chia tay với bà nhà ? »

- Cung cấp thông tin cho bệnh nhân và gia đ́nh bệnh nhân

chia sẻ với bệnh nhân và gia đ́nh họ các giai đoạn của việc chữa trị để thiết lập một mối quan hệ tin tưởng. Tránh các từ phức tạp và chuyên môn, nên dùng các từ đơn giản và rơ ràng.

Tuy nhiên, nếu bệnh nhân yêu cầu không cung cấp tin tức về bệnh của ḿnh cho gia đ́nh, ta phải tôn trọng.

2.Kỹ năng tṛ chuyện và giao tiếp

-Quan trọng của giao tiếp không lời

Nhiều nghiên cứu cho thấy chất lượng của cuộc trao đổi tùy thuộc vào ngôn ngữ không lời hơn là có lời. Không lời là thái độ, cử chỉ, âm điệu giọng nói...tùy thuộc vào tư duy.

Điều rất quan trọng, cùng một câu có thể vừa có ư nghĩa này hoặc ư nghĩa ngược lại tùy theo cách giao tiếp không lời và ư tưởng kèm theo.

Vd. : « Ông (bà) không dùng thuốc sao ? »

Câu này sẽ không cùng ư nghĩa tùy theo cách nói và ư tưởng.

Nếu là ư tưởng : « tại sao ông (bà) không uống, chắc phải có lư do », ta có thái độ thông cảm (với nụ cười). Bệnh nhân sẽ có ư định nói lên điều ǵ.

Nếu là ư tưởng : « ông (bà) phải tuân theo bác sĩ chứ ! », ta có thái độ trách móc (chau mày). Có thể bệnh nhân không c̣n muốn nói chuyện.

Dĩ nhiên, đây không phải là thần giao cách cảm, nhưng hiệu ứng tư tưởng người chăm sóc có tác dụng đến thông điệp không lời, lộ rơ cho bệnh nhân.

Rất khó kiểm soát việc giao tiếp không lời, phản ánh tự nhiên tư tưởng của chúng ta.

-Các loại câu hỏi

Khi đặt câu hỏi cần một thái độ lắng nghe. Trong quan hệ chăm sóc, có những câu hỏi dùng được, có cái nên tránh.

Vd. : MINH, ở pḥng hồi sức, sau khi phẫu thuật đầu gối

- Câu hỏi mở : giúp dối tượng triển khai ư kiến.

« Ca phẫu thuật thế nào ? »

- Câu hỏi đóng : chỉ có thể trả lời có hoặc không

“Ca phẫu thuật tốt chứ ?”

- Câu hỏi tùy chọn (câu trả lời) : có nhiều câu trả lời để chọn

Nếu Minh nói rằng ca phẫu thuật đau đớn, ta hỏi “cái ǵ đau đớn, thuốc gây tê, lúc tỉnh dậy hay là cái ǵ ?”

Loại câu hỏi này sử dụng sau khi thất bại câu hỏi mở để giúp đối tượng diễn tả.

- Lặp lại : hợp thức hoá điều người kia nói. Đối tượng có thể xác nhận hoặc không

Khi thấy Minh trao đổi với nhà liệu pháp vận động, với nụ cười, người chăm sóc nói : « ca phẫu thuật tốt chứ ? »

- Tại sao ? : điều tế nhị khi hỏi Tại sao v́ như ta muốn hỏi điều thầm kín của đối tượng. Cách hỏi này được xem như xoi mói. Phải tránh.

« Tại sao lại hờn dỗi vậy ? »

Kết luận :  Mọi câu hỏi đều có thể sử dụng được trừ  Tại sao. Chọn câu hỏi tùy thời điểm và tùy đối tượng. Tuần tự đặt câu hỏi, gián tiếp, tránh làm cho bệnh nhân có cảm giác bị đột ngột vạch trần đời tư. Cuối cùng, ta cũng cho đối tượng thấy có quyền không trả lời, giải thích điều cần thiết hỏi trong y tế và cho biết không phải để xét đoán.

Đôi lúc bệnh nhân không trả lời các câu hỏi, hoặc không nói ǵ cả, hoặc luôn lặng thinh. Không bị bắt buộc trả lời. Có thể hiểu sai câu hỏi, ta có thể lặp lại. Các bạn phải hiểu không có vấn đề quay đối tượng để có câu trả lời nhưng dùng các câu hỏi sao cho phù hợp với t́nh huống và con người.

KẾT LUẬN CHUNG về khoảng cách trong điều trị : Các thái độ mô tả trên (lắng nghe, đồng cảm và phân tích chuyển di, chống chuyển di), luôn cả giao tiếp, không đ̣i hỏi thêm thời gian, nhưng có lợi hơn trong cải thiện chất lượng tương tác giữa người chăm sóc - người được chăm sóc, và như vậy việc điều trị tốt hơn.

Để đạt được, nhân viên y tế cần tập luyện có một khoảng cách điều trị : quan tâm và đáp ứng đến nhu cầu đối tượng, nhưng không quá gần mà cũng chẳng quá xa (không là « thân mật như bạn bè », cũng không « lạnh lùng »).

Cuối cùng, sự quan hệ đích thực giữa người chăm sóc - người được chăm sóc là giúp một cuộc gặp gỡ thật sự giữa hai con người, mà mọi cuộc gặp gỡ đều đem đến sự phong phú cho nhau.