Phát hiện sớm ung thư vú

 

BS. Trần Chánh Thuận

 

I. Mở đầu

Ung thư vú là một loại ung thư rất phổ biến ở phụ nữ Việt Nam, đứng thứ hai trong các ung thư phụ khoa sau ung thư cổ tử cung tại miền Nam (theo thống kê của Trung tâm Ung Bướu TP. HCM) và đứng hàng đầu trong các ung thư phụ khoa ở các tỉnh phía Bắc.

- Tại Pháp, cứ 100 phụ nữ tử vong do ung thư th́ có đến 25 ca tử vong do ung thư vú, chiếm tỷ lệ đến 77,4 người trên 100.000 dân. Mỗi năm có đến 20.000 ca ung thư vú phát sinh và có đến 10.000 phụ nữ tử vong hàng năm do ung thư vú.

- Về tuổi, theo thống kê của GS. Alain Bremond có các tỷ lệ ung thư vú theo bảng sau:

 

Tuổi

Tỷ lệ (/100.000/năm)

20 – 29

6,8

30 – 39

47,6

40 – 49

201,5

50 – 59

276,4

60 – 69

306,9

≥ 70

215,5

 

- Xuất độ ung thư vú theo tuổi với độ tuổi trung b́nh là 60.

Trên thế giới ung thư vú là một trong những bệnh gây tử vong thứ nh́ ở nữ giới chỉ sau ung thư phổi.

- V́ tầm quan trọng của loại ung thư này, tại các nước đă phát triển, vấn đề tầm soát ung thư vú đă được thực hiện một cách thường xuyên với nhiều chương tŕnh mang tính cách quốc gia. Tại nước ta, các Trung tâm sản Phụ khoa và các trung tâm khác đang từng bước tiến hành chương tŕnh này và đă trang bị đủ các phương tiện cần thiết để chẩn đoán và phát hiện sớm ung thư vú, nâng cao nhận thức và sự quan tâm của phụ nữ đối với ung thư vú.

II. Vấn đề chẩn đoán và điều trị ung thư vú

1. Chẩn đoán:

- Đối với ung thư vú, sau khi đă có chẩn đoán bệnh, ta có bốn giai đoạn bệnh được xếp từ giai đoạn 1 – giai đoạn 4, với t́nh trạng bệnh và tỷ lệ tử vong tăng dần theo mỗi giai đoạn.

- Tại Việt Nam ở giai đoạn 1 và 2 tỷ lệ được phát hiện là 51%, giai đoạn 3 và 4 tỷ lệ được phát hiện lên đến 49%.

2. Điều trị:

Có nhiều phương pháp điều trị ung thư vú, nhưng đối với những giai đoạn trễ mặt dù đă có nhiều tiến bộ (phẫu trị, hóa trị, xạ trị, nội tiết) tỷ lệ tử vong vẫn c̣n rất cao ở những giai đoạn này.

- Phẫu trị: bao gồm phẫu thuật bảo tồn như cắt khối u, nạo hạch nách sau đó xạ trị đối với các khối u < 3cm, hai ổ, ung thư tại chỗ lan tỏa. Sau đó tái tạo lại tuyến vú tức th́ hoặc ở phẫu thuật lần sau.

- Xạ trị: có tác dụng điều trị bổ túc, xạ trị có hệ thống sau phẫu thuật tận gốc để làm giảm nguy cơ tái phát.

- Hóa trị: là dùng thuốc káhng ung thư có tác dụng điều trị toàn thân được sử dụng khi có các yếu tố nguy cơ tái phát, là phương pháp điều trị hỗ trợ rất cần thiết nhưng có nhiều átc dụng phụ và rất tốn kém.

- Tỷ lệ tái phát ở giai đoạn 1: 6%; giai đoạn 2: 31% và giai đoạn 3: lên đến 58%.

- Tỷ lệ sống thêm (%) của bệnh nhân ung thư vú ở từng giai đoạn theo GS. Armando E. Griuliano

 

Giai đoạn TNN

Sống thêm 5 năm

Sống thêm 10 năm

0

95

90

I

85

70

IIA

70

50

IIB

60

40

IIIA

55

30

IIIB

30

20

IV

5 – 10

2

Chung các loại

65

30

 

Do đó chúng ta thấy, muốn điều trị hiệu quả ung thư vú, điều quan trọng nhất là phải phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, ngoài việc mang lại hiệu quả điều trị cho người bệnh, c̣n giúp giảm thiểu chi phí điều trị rất tốn kém cho gnười bệnh và cho xă hội. Điều này chúng ta có thể thực hiện được với các phương tiện được trang bị hiện nay cùng với sự tham gia tích cực của cộng đồng, nhất là nhận thức của người dân đối với căn bệnh này.

III. Làm thế nào để phát hiện sớm ung thư vú

- Ung thư vú là loại ung thư khi khởi phát và ngay cả khi đang ở giai đoạn đầu là loại ung thư không có triệu chứng lâm sàng cũng như không gây cho bệnh nhân một triệu chứng báo động ǵ cả, nhưng ngược lại nó là một loại ung thư có thể phát hiện được rất sớm.

- Người bệnh muốn được phát hiện sớm cần phải thực hiện các bước sau:

1. Đối với những phụ nữ khỏe mạnh, cần khám kiểm tra định kỳ vú và phụ khoa mỗi năm, từ 35 tuổi trở lên  dù không có bất kỳ triệu chứng lâm sàng nào. Những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ cao th́ 3 – 6 tháng khám một lần theo chỉ định của thầy thuốc.

2. Chụp nhũ ảnh định kỳ hàng năm hoặc theo chỉ định của thầy thuốc. Cho đến ngày nay, nhũ ảnh là phương tiện tốt nhất để giúp chúng ta phát hiện sớm ung thư vú và nó có thể phát hiện được ung thư vú ở giai đoạn không có triệu chứng lâm sàng hàng năm trước khi người bác sĩ và bệnh nhân cảm nhận được tổn thương.

Nhũ ảnh được đề nghị chụp tầm soát cho các phụ nữ > 35 tuổi với nhịp độ như sau:

·      Chụp lần đầu tiên trong đời trong khoảng 35 – 39 tuổi.

·      Từ 40 – 49 tuổi, thực hiện một lần mỗi một đến hai năm tùy theo các yếu tố nguy cơ của người phụ nữ (sẽ tŕnh bày phần sau).

·      Mỗi năm một lần cho các phụ nữ từ 50 tuổi trở lên.

3. Tự khám vú: được đề nghị thực hiện với mọi phụ nữ trên 20 tuổi, phụ nữ nên khám ngực ḿnh từ ngày thứ 8 của chu kỳ kinh hay sau khi sạch kinh với nhịp độ mỗi tháng một lần. Khi tự khám đều đặn chị em sẽ biết t́nh trạng mỗi bên vú nên rất dễ phân biệt được đâu là b́nh thường đâu là bất thường, với các bước như sau:

·      Đứng trước gương, ở trần, hai cánh tay buông xuôi hai bên hông, quan sát hai vú rồi đổi tư thế: hai tay để phía sau mông, nghiên nhẹ người tới trước, quan sát cả hai vú để xem có ǵ thay đổi về kích thước của hai vú (một bên lớn hơn thường lệ, hoặc teo nhỏ lại), quan sát da vú (da cam, da bị lơm xuống ở một vùng nào đó), xem núm vú có bị kéo lệch hay tụt vào không và ấn nhẹ núm vú xem có máu hay chất dịch tiết ra ở đầu núm vú không?

·      Nằm ngửa, kê gối hoặc khăn xếp lại dưới vai bên phải, tay phải để sau ót, dùng các ngón tay trái (bàn tay phải x̣a thẳng), nhẹ nhàng ép sát tuyến vú vào thành sườn, bắt đầu phần trên rồi đến phần dưới của vú, cuối cùng là núm vú, nhằm t́m một cục u (khối u, khối bướu). Khi khám vú trái th́ đổi ngược tư thế lại. Cuối cùng là nên sờ vùng nách hai bên để xem có u hoặc hạch nách không. Nếu tự khám đều đặn và thường xuyên sẽ phát hiện được những khối u nhỏ hơn nhiều so với các phụ nữ không thực hiện việc tự khám vú ḿnh.

Nếu thực hiện tốt các bước trên th́ sẽ phát hiện được ung thư vú ở các giai đoạn rất sớm hoặc với các khối u với kích thước < 1cm và không có di căn hạch. Lợi ích của phương thức này là một phương thức phát hiện sớm ung thư ít tốn kém, không sang chấn và chi phí chấp nhận được.

Tại các nước đang phát triển, các chương tŕnh tầm soát được tiến hành bằng cách khám hàng loạt cho các phụ nữ khỏe mạnh > 35 tuổi, đă làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú lên đến 30%.

IV. Các yếu tố nguy cơ của ung thư vú

Việc xác định một phụ nữ có các yếu tố nguy cơ cao của ung thư vú là việc rất cần thiết cho các bác sĩ ung thư và các bác sĩ phụ khoa, đối với phụ nữ trong qui tŕnh khám phụ khoa và tầm soát ung thư vú để chỉ định chọ nhịp độ theo dơi và điều trị. Các yếu tố nguy cơ cao bao gồm:

- Phụ nữ trên 50 tuổi.

- Đă bị ung thư vú một bên.

- Tiền căn gia đ́nh vừa bên cha vừa bên mẹ có người bị ung thư vú.

- Tiền căn ung thư vú ở thế hệ 1: mẹ, chị, con gái.

- Bản thân có ung thư buồng trứng, ung thư nội mạc tử cung.

- Tiểu đường sau măn kinh.

- Đời sống kinh tế cao.

- Sanh con đầu ḷng sau 35 tuổi.

- Độc thân hoặc sanh ít.

- Tiền căn có xạ trị.

- Có kinh sớm trước 12 tuổi.

- Măn kinh sau 55 tuổi.

- Mập ph́.

V. Pḥng ngừa ung thư vú

Vú là cơ quan dễ bị ung thư nhất của phụ nữ nhưng hiện nay vẫn chưa có phương pḥng ngừa nào có hiệu quả. Khuynh hướng hiện nay, đa số các thầy thuốc đều khuyên nên:

- Cố gắng cải thiện các yếu tố nguy cơ cao nếu được, nếu có các yếu tố nguy cơ cao th́ nên tự khám và đi kiểm tra thường xuyên vú và phụ khoa.

- Tránh stress (chấn kích), dinh dưỡng đúng và cân bằng, bổ sung thêm khẩu phần nhiều rau quả và trái cây chứa nhiều β caroten.

- Chụp nhũ ảnh định kỳ, có thể làm thêm các xét nghiệm bổ sung cheo chỉ định của thầy thuốc.

VI. Kết luận

Vú là cơ quan dễ bị ung thư nhất ở mọi phụ nữ, dù có các tiến bộ rất đáng kể về điều trị trong thập niên vừa qua với chi phí điều trị rất tốn kém cho bệnh nhân và cho xă hội, nhưng tỷ lệ tử vong vẫn c̣n rất cao khi được phát hiện trễ, ngược lại điều trị đạt hiệu quả cao và ít tốn kém nếu bệnh được phát hiện sớm, điều này đặc biệt phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nước ta hiện nay.

- Tại nước ta, chúng ta có đủ điều kiện và phương tiện để phát hiện sớm ung thư vú, nếu thực hiện tốt chương tŕnh tầm soát và khám phụ khoa định kỳ cũng như sự hiểu biết và quan tâm của mỗi người dân đối với bệnh này sẽ làm giảm thiểu được tỷ lệ tử vong cũng như chi phí cho bệnh nhân và xă hội.