Suy tĩnh mạch mạn tính
Một nguyên nhân gây phù chân ít được biết đến

PGS. TS. BS. Nguyễn Hoài Nam

(Đại học Y dược TP. HCM)

I. Đại cương:

Ở các nước tiên tiến như Châu Âu, Mỹ v.v…, bệnh lư tĩnh mạch có một ư nghĩa Y tế-Xă hội khá quan trọng v́ bệnh rất thường gặp. Theo các thống kê ở Pháp, bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chiếm đến 1% ở nam giới và 4,5% nữ giới ở tuổi trưởng thành, trong đó có hơn 70% là nữ và khoảng 35% ở những người  đang làm việc.

Ở Việt Nam, trên thực tế bệnh cũng rất thường gặp nhưng chưa thực sự có được sự chú ư của cả thầy thuốc và bệnh nhân. Cho đến nay, chưa có một thống kê đầy đủ về loại bệnh này. Tuy nhiên, theo dự đoán của các chuyên gia Y tế, bệnh sẽ gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thay đổi nếp sống ở nước ta.

Chúng tôi c̣n nhớ trong lần thực tập tại Pháp về phẫu thuật mạch máu tháng 3-1994, Bác sĩ Pierre Desoutter, trưởng khoa Phẫu thuật mạch máu bệnh viện Juvisy phía nam thủ đô Paris đă nói với các Bác sĩ Việt Nam đến thực tập ở đây rằng: “Phẫu thuật Striping (phẫu thuật lấy đi các tĩnh mạch nông bị giăn) là phẫu thuật đầu tay của người Bác sĩ Phẫu thuật viên về mạch máu” và ông bắt chúng tôi phải làm thuần thục phẫu thuật này trước khi kết thúc đợt thực tập.

II. Giải phẫu tĩnh mạch chi dưới:

Các tĩnh mạch của chi dưới được phân chia làm 3 hệ thống: hệ nông, hệ sâu và hệ xuyên:

- Hệ tĩnh mạch sâu là các tĩnh mạch đi kèm với động mạch như tĩnh mạch chày, tĩnh mạch mác, tĩnh mạch chậu v.v…các tĩnh mạch càng lớn càng có ít van, tĩnh mạch chủ hầu như không có van và các tĩnh mạch này không bao giờ bị giăn, bệnh chủ yếu của hệ thống tĩnh mạch này là viêm tắc tĩnh mạch.

- Hệ tĩnh mạch nông ở chi dưới có hai nhóm: tĩnh mạch hiển ngoài và tĩnh mạch hiển trong. Tĩnh mạch hiển trong lớn và ở mặt trong của đùi đi từ mặt trước của mắt cá trong đến chỗ nối tĩnh mạch đùi-chậu (ngay nếp bẹn). Tĩnh mạch hiển ngoài nhỏ và nằm ở phía ngoài đi từ mặt trước mắt cá ngoài lên đến khoeo chân và đổ vào tĩnh mạch khoeo. Ngoài ra, nó c̣n bao gồm cả các tĩnh mạch dưới da. Bệnh lư suy tĩnh mạch mạn tính thường hay xảy ra ở hệ thống này.

- Hệ tĩnh mạch xuyên có nhiệm vụ đưa máu từ hệ thống tĩnh mạch nông vào hệ tĩnh mạch sâu bao gồm nhiều nhóm.

Máu di chuyển trong ḷng tĩnh mạch theo chiều từ nông vào sâu và từ dưới lên trên nhờ hệ thống van mở ra khi máu đi về trung tâm đóng lại không cho máu chảy ngược và lực hút do hoạt động của cơ hoành, sức hút của tim, áp lực âm vùng trung thất cùng lực đẩy do hoạt động của hệ thống cơ. Tùy theo vị trí và nguyên nhân của tổn thương bệnh giăn tĩnh mạch chi dưới được chia làm 4 nhóm:

- Nhóm giăn tĩnh mạch tiên phát hay c̣n gọi là giăn tĩnh mạch vô căn: trong nhóm này, ban đầu các tĩnh mạch bị giăn và dài ra sau đó các van tĩnh mạch mất dần chức năng.

- Nhóm giăn tĩnh mạch thứ phát, thường do viêm tĩnh mạch: Ở nhóm này các van tĩnh mạch bị mất chức năng trước, sau đó các tĩnh mạch mới bị giăn và dài ra.

- Giăn tĩnh mạch ở người có thai, do tác dụng của nội tiết tố sinh dục nữ và chèn ép của tử cung bị to ra khi có thai.

- Giăn tĩnh mạch bẩm sinh, nguyên nhân do bất thường của thành tĩnh mạch làm nghẹt tĩnh mạch sâu và ḍ động tĩnh mạch (dạng u máu hỗn hợp).

III. Biến chứng của giăn tĩnh mạch:

- Trước tiên là các biến chứng về rối loạn huyết động học: cẳng chân bệnh nhân bị sưng to, có triệu chứng đau buốt mặt sau cẳng chân, chuột rút về đêm.

- Nặng hơn bệnh nhân có thể bị viêm tắc tĩnh mạch, chân nóng, sưng đỏ, các tĩnh mạch nông nổi rơ và viêm cứng.

- Giai đoạn cuối cùng có thể diễn tiến đến t́nh trạng giăn to toàn bộ hệ tĩnh mạch, các tĩnh giăn rất lớn, ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm trùng rất khó điều trị.

- Cục thuyên tắc có thể tách rời khỏi thành tĩnh mạch, đi về tim và gây thuyên tắc động mạch phổi, một biến chứng rất nặng có thể đưa đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.

IV. Các yếu tố nguy cơ:

- Trên thực tế không phải người nào cũng có khả năng bị bệnh này, chỉ có một số người thuộc nhóm có nguy cơ cao là hay mắc bệnh. Di truyền là mẫu số chung cho những bệnh nhân này, trong thực hành bệnh viện hàng ngày chúng tôi nhận thấy có một số người về di truyền dễ bị mắc bệnh hơn những người khác, nguyên nhân do những thay đổi về enzyme trong mô liên kết. Nữ thường bị nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ, thai nghén lên thành tĩnh mạch, do phải đứng lâu trong một số ngành nghề đặc biệt như bán hàng, thợ dệt, do khối lượng cơ thấp hoặc dùng giày không thích hợp.

- Tăng trọng quá mức cũng là một yếu tố nguy cơ v́ lực tác động từ phía trước để hút máu về bị giảm và các ḍng trào ngược ly tâm phát sinh do gia tăng áp lực từ ổ bụng.

- Chủng tộc có ít nhiều ảnh hưởng đến bệnh này, trừ khi chúng được kết hợp với sự phát triển về kinh tế và thay đổi cách sống. Tại Pháp, cộng đồng người dân di cư đến từ các nước vùng bắc Phi rất hay bị bệnh giăn tĩnh mạch, đa số họ đều là những người dân nghèo, sống trong những điều kiện vật chất thiếu kém và phải làm những việc nặng nhọc, đứng lâu, nhiệt độ cao ở vùng chân: nội trợ, giặt quần áo, thợ dệt, tài xế v.v…

- Thuốc ngừa thai do sử dụng nội tiết tố nên cũng là một yếu tố nguy cơ như thai nghén.

- Phẫu thuật có thể gây ra biến chứng huyết khối tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch nhất là những phẫu thuật vùng tiểu khung như phẫu thuật trong sản khoa và niệu khoa các thủ thuật khác như bó bột, bất động lâu trong găy xương v.v… Tuy nhiên, gần đây tầm quan trọng của yếu tố nguy cơ này đă giảm bớt.

- Những bệnh do theo chế độ ăn kiêng có nhiều chất bột, ít chất xơ hay bị táo bón cũng rất dễ bị giăn tĩnh mạch.

V. Các triệu chứng chính và chẩn đoán:

- Theo một thống kê nghiên cứu đa trung tâm do Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh chủ xướng: Đa số bệnh nhân 77,6% không hề biết về bệnh tĩnh mạch trước đó. Điều này nói lên thực trạng về bệnh lư tĩnh mạch ở nước ta, trong đó chủ yếu là bệnh nhân ít quan tâm, ngại đi khám, thầy thuốc coi nhẹ và bỏ sót các triệu chứng. Trong đó, 91,3% bệnh nhân không được điều trị và 8,7% được điều trị không đúng phương pháp chủ yếu là sử dụng các loại thuốc chữa triệu chứng như Aspirin, lợi tiểu hoặc các loại thuốc ĐôngY.

- Các triệu chứng thường gặp nhất trong giai đoạn đầu là phù hai chi dưới đi kèm với cảm giác nặng, chuột rút về ban đêm, triệu chứng này sẽ bớt khi bệnh nhân kê chân cao buổi tối khi đi ngủ. Về sau, các triệu chứng nặng dần và xuất hiện các mảng rối loạn dinh dưỡng trên da và các tĩnh mạch giăn dần, nổi ngoằn nghoèo, có thể có những đợt viêm tắc tĩnh mạch với các triệu chứng nhiễm trùng toàn thân như sốt cao, môi khô lưỡi dơ và tại chỗ tĩnh mạch bị viêm đỏ, bên trong ḷng xuất hiện những cục thuyên tắc cứng v.v…

- Việc xác định chẩn đoán chủ yếu dựa vào khám lâm sàng bao gồm nh́n thấy những đoạn tĩnh mạch bị giăn, ngoằn ngoèo, da đổi màu, rối loạn dinh dưỡng, loét và sự xuất hiện của các u máu.

- Sờ để biết được độ cứng của phần mềm, đặc biệt là vùng trước xương chày, so sánh cả hai bên. Ngoài ra, có thể sờ thấy cả một đoạn tĩnh mạch cứng, phù nề, các cục thuyên tắc và xác định nhiệt độ của da.

- Với các thầy thuốc chuyên khoa, có thể áp dụng một số thủ thuật để đánh giá t́nh trạng của các van tĩnh mạch hiển trong như: thủ thuật Schwarz, thủ thuật ho, thủ thuật Trendelenburg và thủ thuật Perthe.

- Cuối cùng, chẩn đoán được xác định bằng siêu âm Doppler màu mạch máu, với phương pháp này cho phép chúng ta xác định được những rối loạn huyết động học, t́nh trạng của các van tĩnh mạch, mức độ giăn của tĩnh mạch và các cục thuyên tắc trong ḷng mạch để từ đó có thái độ điều trị đúng đắn.

VI. Điều trị:

Có 5 phương pháp điều trị chính nhằm kiểm soát hay chặn đứng sự trào ngược, loại bỏ trào ngược từ các tĩnh mạch nhánh và từ các mạch nối, cuối cùng là ngăn ngừa sự tràn ngập mô kẽ do dịch thấm ra từ các vi quản.

- Pḥng ngừa: Phương pháp này nhằm chặn đứng sự trào ngược và làm cho các lực tác động lên ḍng chảy của tĩnh mạch được tốt hơn. Bao gồm: Để chân cao khi nằm nghỉ, tập cơ mạnh hơn, tránh đứng hay ngồi lâu, mang vớ thun hay quấn chân bằng băng thun, sửa lại vị trí bàn chân đối với các dị tật, tránh béo ph́, tập hít thở sâu, ăn chế độ có nhiều chất xơ để tránh táo bón v.v…

- Băng ép nhằm phục hồi áp suất chênh lệch giữa hai hệ thống tĩnh mạch nông và sâu thông qua hệ thống xuyên, giảm đường kính của ḷng tĩnh mạch để tăng khả năng vận chuyển khi nghỉ ngơi cũng như khi gắng sức.

- Điều trị nội khoa với các thuốc làm bền thành mạch như Daflon, Rutin C, Veinamitol v.v… nhưng phần lớn chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của giăn tĩnh mạch. Một số thầy thuốc chuyên khoa c̣n áp dụng phương pháp tiêm gây xơ tại chỗ với các thuốc làm xơ hóa ḷng mạch máu.

- Phẫu thuật với hai phương pháp chính: Lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giăn gọi là phương pháp Stripping bằng một dụng cụ chuyên dùng cho phép rút các tĩnh mạch như chúng ta làm ḷng gà và phương pháp Chivas lấy các đoạn tĩnh mạch bị giăn của hệ thống xuyên, đây là phương pháp điều trị khá triệt để có tỷ lệ tái phát thấp nhất. Ngoài ra, hiện nay người ta c̣n áp dụng phương pháp làm lạnh với Nitơ lỏng âm 90oC để làm nghẹt ḷng tĩnh mạch qua một ống thông trong ḷng tĩnh mạch, tuy nhiên phương pháp này cho tỷ lệ tái phát khá cao đến 30% các trường hợp.

Nhân loại đă sắp sửa bước sang một thiên niên kỷ mới, bao nhiêu thành tựu khoa học đă đạt được trong đó phải kể đến những thành tựu lớn trong Y học kể cả trong lĩnh vực nghiên cứu và điều trị các bệnh lư về mạch máu. Tuy nhiên, theo chúng tôi những người thầy thuốc điều mấu chốt quan trọng nhất là pḥng bệnh hơn chữa bệnh. Chúng ta hăy pḥng bệnh giăn tĩnh mạch bằng các phương pháp rất đơn giản như tránh béo ph́, tráng đứng lâu, tránh táo bón và làm tăng sức bền của thành mạch máu bằng tập thể dục, ăn các thức ăn giàu vitamin nhiều chất xơ v.v…