Bệnh Zona (Herpes Zoster)
BS. Nguyễn
Hoàng Tuấn dịch theo John .Gnann, Jr: Herpes zoster, N Engl J Med
2002, 347:340 – 346
Dịch
tể học
Virút Varicella Zoster gây ra hai
thể bệnh riêng biệt. Nhiễm khuẩn tiên phát gây
bệnh thủy đậu, một bệnh rất hay lây
nhưng thường lành tính, xảy ra thành dịch ở
những trẻ cảm thụ. Sự tái hoạt sau này
của virút Varicella Zoster tiềm ẩn trong các hạch
rễ lưng tạo nên một phát ban ngoài da khu trú gọi
là zona (giời ăn). Các đáp ứng miễn dịch qua
trung gian tế bào chuyên biệt cho virút bị giảm sút,
hoặc xảy ra tự nhiên như một hệ quả
của tuổi tác, hoạt động do các bệnh ức
chế miễn dịch hoặc do thuốc điều
trị bệnh nội khoa, làm tăng nguy cơ bị zona.
Trên 90% người lớn
ở Hoa Kỳ có chứng cứ huyết thanh của
việc nhiễm virút Varicella Zoster và đều có nguy cơ
bị zona (Choo PW, et al. 1995). Số mắc mới hàng
năm của zona vào khoảng 1,5 – 3 trường
hợp/1.000 người (Donahue JG, 1995; Ragozzino MW, et al. 1982).
Tỷ lệ mắc mới 2 trường hợp/1.000
người đồng nghĩa với trên 500.000
trường hợp mới hàng năm tại nước
Mỹ. Tuổi đời tăng là yếu tố nguy
cơ chủ chốt của bệnh zona, số
trường hợp mắc mới của zona ở
những người trên 75 tuổi vượt quá con số
10 trường hợp/1.000 người-năm. Nguy cơ
mắc zona trong suốt cuộc sống ước tính là 10
– 20% (Ragozzino MW, et al. 1982).
Một yếu tố nguy cơ khác đă
được xác định rơ của bệnh zona là t́nh
trạng miễn dịch qua trung gian tế bào bị thay
đổi. Những bệnh nhân (BN) có các bệnh lư về
u tân sinh (đặc biệt các ung thư tăng sinh tố
chức lymphô), những người đang dùng thuốc
ức chế miễn dịch (gồm cả corticosteroid),
và những người nhận ghép cơ quan là những
thành phần có nguy cơ tăng cao bị mắc zona. Tuy
nhiên, việc t́m kiếm một bệnh lư ung thư
tiềm ẩn ở những người bề ngoài có
vẻ khỏe mạnh bị zona, là không hợp lư lắm
(Ragozzino MW, et al. 1982).
Những người HIV (+) có tần số
mắc bệnh cao hơn những người có huyết
thanh (-). Một nghiên cứu dài hạn cho thấy những
người HIV (+) có tỷ lệ mắc zona mới là
29,4/1000 người – năm. So với 2/1000 người –
năm ở nhóm HIV (-) đối chứng (Buchbinder SP, et al.
1992). V́ zona có thể xảy ra ở những người đă
bị nhiễm HIV không triệu chứng, xét nghiệm
huyết thanh có thể thích hợp ở những BN không có
nguy cơ rơ ràng nào mắc zona (ví dụ những
người có vẻ khỏe mạnh dưới 50
tuổi).
Trong thời kỳ tiền triệu của
zona, BN bị nhức đầu, sợ ánh sáng và khó ở,
nhưng hiếm khi có sốt. Bệnh khởi đầu
với các cảm giác da bất thường khu trú, bao quát
từ ngứa hoặc đau nhói đến đau dữ
dội, có trước các tổn thương da từ
một đến năm ngày, cơn đau với các
cường độ khác nhau xảy ra hầu như
ở tất cả BN bị zona cấp. Một phát ban
hồng ban dát sẩn tiến triển thành các cụm
mụn nước trong 3 – 5 ngày sau và diễn tiến qua các
giai đoạn hóa mũ, loét và đóng vảy. Lành tổn
thương xảy ra trong khoảng thời gian từ 2 – 4
tuần, thường để lại sẹo và những
thay đổi màu da vĩnh viễn. Phát ban ngoài da
thường chỉ ở một bên và không vượt quá
đường giữa thân. Việc có tổn thương
cùng lúc ở nhiều khoanh da (dermatome) không liền kế
nhau hầu như không bao giờ xảy ra ở những BN
có chức năng miễn dịch toàn vẹn, mặc dù
trong 20% trường hợp tổn thương có nhiễm
trùng lên các khoanh da kế cận. Sự hiện diện
của một ít tổn thương da lân cận cũng
không có ǵ là bất thường hoặc có tầm quan
trọng về tiên lượng ǵ ở những BN có
chức năng miễn dịch đầy đủ.
Biểu hiện da của zona đủ rơ
để có chẩn đoán lâm sàng thường là chính xác.
Tuy nhiên vị trí hoặc h́nh dạng của các tổn
thương ngoài da có thể không điển h́nh
(đặc biệt ở những BN có hệ miễn
dịch bị suy giảm), khi đó cần có sự xác
định của labô. Có thể nuôi cấy virút, nhưng
virút Varicella Zoster yếu ớt và tương đối khó
hồi phục từ các mẫu bệnh phẩm của
những tổn thương ở da. Định
lượng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp
nhạy cảm hơn nuôi cấy virút, chi phí thấp hơn
và có thời gian trả lời kết quả xét nghiệm
nhanh hơn (Dahl H, et al. 1997). Giống như nuôi cấy
virút, định lượng miễn dịch huỳnh quang
trực tiếp có thể phân biệt giữa nhiễm virút
Herpes Simplex và nhiễm virút Varicella Zoster. Kỹ thuật
phản ứng khuyếch đại chuỗi gien bằng
enzym polymerase có ích trong việc t́m DNA của virút Varicella
Zoster trong dịch và các mô (Gilden DH, et al. 2000).
Đau dây thần kinh sau herpes
(được định nghĩa là đau tồn
tại trên 30 ngày sau khi nổi phát ban hoặc sau khi liền
sẹo) là biến chứng đáng sợ nhất đối
với những BN có chức năng miễn dịch
đầy đủ. Cả tỷ lệ khởi phát
lẫn thời gian tồn tại của đau dây thần
kinh sau zona, có liên quan trực tiếp với tuổi
của BN (Choo PW và CS 1997). Tỷ lệ khởi phát
được báo cáo của đau dây thần kinh sau zona
bao quát từ 8 – 70% và tăng khi tuổi đời càng cao.
Trong một nghiên cứu (Choo PW, Galil K, et al. 1997), tỷ
lệ lưu hành của đau dây thần kinh sau zona là 8%
sau 30 ngày và là 4,5% sau 60 ngày. Khi so sánh với những BN
trẻ hơn, những người ở lứa tuổi
≥ 50 có tỷ lệ lưu hành cao gấp 15 và 25 lần,
theo thứ tự ở các thời điểm 30 và 60 ngày.
Mỗi mức tăng một nam tuổi đi kèm với
gia tăng tỷ lệ lưu hành của đau dây thần
kinh sau zona là 9 và 12% lần lượt ở các thời
điểm 30 và 60 ngày. Bên trong vùng khoanh da (dermatome) bị
tổn thương ngoài đau dây thần kinh ra, BN c̣n có
nhiều bất thường về cảm giác, như
dị giác (allodynia) một thể tăng cảm giác
(hyperesthesia) trong đó một kích thích không đau (như
chạm nhẹ) được nhận biết như
đau. Đau có thể tồn tại hàng tháng và đôi khi
hàng năm.
Biến chứng của zona ở những BN
có chức năng miễn dịch đầy đủ
gồm viêm năo, viêm tủy, liệt dây thần kinh sọ năo,
dây thần kinh ngoại biên và một hội chứng
liệt nhẹ nửa người phía đối diện
muộn (Gilden DH, et al. 2000). Ở kỷ nguyên trước
khi có các thuốc kháng rivút, sự lan tỏa ngoài da của
virút Varicella Zoster được biết là từ 6 – 26%
ở những BN bị suy giảm miễn dịch (Gnann JW,
Whitley RJ. 1991). Ở đa số BN, bệnh lan tỏa
chỉ giới hạn ở da, tuy nhiên từ 10 – 50% BN
cũng có chứng cứ của tổn thương
nội tạng (như viêm phổi, viêm năo, hoặc viêm gan).
Ngay khi dùng liệu pháp acyclovir truyền tĩnh mạch,
tử suất của BN zona có lan tỏa nội tạng là
5 – 15%, với phần lớn tử vong do viêm phổi (Gnann
JW, Whiltey RJ. 1991).
Hoại tử vơng mạc cấp tính do virút
Varicella Zoster thỉnh thoảng gặp ở những BN có
chức năng miễn dịch đầy đủ, dù
rằng các báo cáo gần đây hơn đều tập
trung vào các bệnh mắt ở những BN nhiễm HIV
(Ormerod LD, et al. 1998). Những thay đổi về thị
giác bắt đầu nhiều tuần hoặc nhiều
tháng sau khi zona đă khỏi. Bệnh zona trước đó
có thể gây tổn thương bất kỳ vùng khoanh da
nào (không nhất thiết là dây thần kinh tam thoa), ngụ ư
nhiễm trùng vơng mạc có lẽ mắc phải qua
đường máu. Soi đáy mắt cho thấy những
tổn thương dạng hạt, hơi vàng, không
xuất huyết. Ở những BN nhiễm HIV, các tổn
thương nhanh chóng lan rộng và kết tập lại,
ít có đáp ứng với trị liệu kháng virút và hầu
như chắc chắn gây mù cho mắt bị bệnh. Viêm
vơng mạc ở những BN có chức năng miễn
dịch đầy đủ ít nặng hơn và
thường có thể chặn đứng được
bằng trị liệu kháng virút.
Chiến
lược xử trí và chứng cứ đi kèm
Điều trị zona dễ đẩy nhanh
việc liền sẹo, hạn chế độ nặng
và thời gian kéo dài đau cấp tính và mạn tính, và
giảm biến chứng. Ở những BN bị tổn
hại miễn dịch, thêm một mục tiêu điều
trị nữa là giảm nguy cơ lan tỏa virút Varicella
Zoster.
Tại Hoa Kỳ có ba dược chất
được chấp thuận sử dụng trong
điều trị zona là acyclovir, valacyclovir, famciclovir.
Liệu pháp
kháng virút đường uống khuyến nghị cho zona
ở người lớn có chức năng miễn
dịch b́nh thường với chức năng thận
b́nh thường
|
Acyclovir 800mg mỗi 4 giờ (5 lần
mỗi ngày) trong 7 – 10 ngày. Famciclovir 500mg mỗi 8 giờ (3 lần
mỗi ngày) trong 7 ngày. Valacyclovir 1000mg mỗi 8
giờ (3 lần mỗi ngày) trong 7 ngày. |
Trong những nghiên cứu có đối
chứng giả dược, acyclovir (800mg ngày 5 lần) rút
ngắn thời gian bài xuất virút, làm ngưng sự h́nh
thành tổn thương mới nhanh chóng hơn, đẩy
nhanh tốc độ liền sẹo, và giảm độ
nặng của cơn đau cấp (Huff JC, et al. 1998: Morton
P, Thomson AN, 1989; McKendrich MW, 1986; Tyring S, et al. 1995). Một
tổng phân tích cho thấy acyclovir tốt hơn có ư
nghĩa so với giả dược trong việc giảm
thời gian kéo dài của “cơn đau có liên hệ
đến zona”, được định nghĩa là
sự kéo dài liên tục của đau tính từ lúc khởi
bệnh đến lúc lành bệnh hẳn (Wood MJ, et al. 1996).
Trong số những BN mà tuổi đời thấp
nhất là 50, thời gian trung b́nh để khỏi cơn
đau là 41 ngày so với 101 ngày ở nhóm giả
dược; và tỷ lệ đau tồn tại
đến 6 tháng là 15% so với 35% ở nhóm giả
dược (Wood MJ, et al. 1996).
Valacyclovir, một tiền chất của
acyclovir, sản sinh nồng độ acyclovir huyết thanh
cao cấp gấp 3 – 5 lần nồng độ đạt
được nếu dùng acyclovir đường uống.
Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên ở những BN
tuổi trên 50, valacyclovir (1000mg mỗi 8 giờ) và acyclovir
cùng mang lại một tiến độ lành da tương
đương nhau (Beutner KR, et al. 1995). Valacyclovir rút
ngắn một cách có ư nghĩa thời gian trung b́nh khỏi
hẳn cơn đau có liên hệ đến zona (38 ngày so
với 51 ngày, P = 0,001). Tỷ lệ BN c̣n đau vào thời
điểm 6 tháng là 25,7% ở nhóm acyclovir là 19,3% ở nhóm
valacyclovir (P = 0,02). Kéo dài trị liệu valacyclovir từ 7
ngày lên 14 ngày không mang lại thêm lợi ích ǵ.
Famciclovir (500mg mỗi 8 giờ), một
tiền chất của penciclovir, có kết quả tốt
hơn so với giả dược trong việc làm giảm
thời gian bài xuất virút, hạn chế thời gian h́nh
thành tổn thương mới và đẩy nhanh việc
lành sẹo trong một nghiên cứu có đối chứng
giả dược (Tyring S và CS 1995). Trong một phân tích
ở nhóm phụ của các BN tuổi trên 50 và vẫn
tồn tại đau sau khi đă lành da, thời gian kéo dài
của đau thần kinh sau zona trung b́nh là 163 ngày ở nhóm
giả dược và 63 ngày ở nhóm famciclovir (P = 0,004)
(Tyring S và CS 1995).
Valacyclovir và famciclovir được đem so
sánh trong điều trị zona ở những BN có chức
năng miễn dịch đầy đủ và
được chứng minh tương đương
về mặt trị liệu, xét cả về tiến
độ lành da lẫn khỏi đau (Tyring SK, et al. 2000).
Valacyclovir và famciclovir được ưa chuộng hơn
acyclovir trong điều trị zona v́ có bilan dược
động học tốt hơn và chế độ dùng
thuốc đơn giản hơn. Cả ba loại
thuốc đều an toàn một cách lạ thường và
được dung nạp tốt. Không có chống chỉ
định nào đối với việc sử dụng các
thuốc này, mặc dù cần phải điều chỉnh
liều dùng ở những BN bị suy thận. Hiện
chưa có thuốc nào trong số các thuốc trên
được cơ quan Quản lư Thực phẩm và
Dược phẩm Hoa Kỳ chấp thuận cho sử
dụng ở phụ nữ có thai. Các thuốc kháng virút dùng
bôi ngoài không có vai tṛ ǵ trong xử trí của bệnh zona.
Những BN bị zona của nhánh I thần
kinh sinh ba điển h́nh có các triệu chứng đau
nửa bên mặt, và các tổn thương ở trán, vùng
quanh nhăn cầu và mũi. Nếu không trị liệu kháng
virút, khoảng chừng 50% những BN này sẽ có các
biến chứng về mắt (như bệnh lư giác
mạc, viêm thượng củng mạc, viêm mống
mắt hoặc viêm giác mạc nhu mô), một số trong các
biến chứng này có tiềm năng gây mù (Cobo M, et al.
1987). Liệu pháp kháng virút đường uống làm
giảm các biến chứng mắt muộn từ
khoảng 50% xuống c̣n từ 20 – 30%. Những BN bị
zona mắt nên được một bác sĩ nhăn khoa có kinh
nghiệm về xử trí các bệnh lư giác mạc thăm
khám và đánh giá (Liesegang TJ. 1999).
Bệnh zona ở những BN HIV (+) cũng
tương tự như bệnh zona ở những
người có chức năng miễn dịch đầy
đủ, dù rằng vài điểm khác biệt như tái
phát thường xuyên và các tổn thương không
điển h́nh đă được mô tả kỹ
lưỡng (Glesby MJ, et al. 1995). Acyclovir đường uống
có hiệu quả trong điều trị zona ở BN
nhiễm HIV (Ganann JW, et al. 1998). Valacyclovir và famciclovir chưa
được đánh giá một cách có hệ thống,
mặc dù kinh nghiệm truyền khẩu ám chỉ chúng có
hiệu lực. V́ nguy cơ tái phát ở những BN này,
bệnh do virút Varicella Zoster nên được điều
trị cho đến khi các tổn thương lành lặn
hẳn. Vài trường hợp bệnh hiếm gặp do
các virút Varicella Zoster kháng acyclovir gây ra đă được
báo cáo ở những BN AIDS giai đoạn muộn, buộc
phải điều trị với các thuốc thay thế
khác (như foscarnet) (Safrin S, et al. 1991). Sau khi điều
chỉnh theo tuổi, tỷ lệ của đau dây
thần kinh sau zona ở những BN HIV (+) không khác biệt
đáng kể so với tỷ lệ ở khối dân
số có chức năng miễn dịch đầy
đủ (Glesby MJ, et al. 1995; Gnann JW, 1998).
Có hai nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn, có
đối chứng lượng giá vai tṛ của
corticosteroid trong kết hợp với acyclovir. Trong cả
hai nghiên cứu (Harrison RA, et al. 1999: Wood MJ, et al. 1994),
những BN dùng corticosteroid có sự tăng vừa phải
nhưng có ư nghĩa thống kê tiến độ lành da và
giảm nhẹ được cơn đau cấp tính.
Liệu pháp kết hợp mang lại một chất
lượng cuộc sống được cải
thiện, thể hiện qua việc giảm sử dụng
thuốc giảm đau, thời gian có giấc ngủ không
đứt quăng dài hơn và thời gian trở lại sinh
hoạt thường lệ sớm hơn. Tuy nhiên không có
nghiên cứu nào chứng minh được bất kỳ
tác dụng nào của corticosteroid trên tỷ lệ mắc
bệnh hoặc thời gian kéo dài của đau dây thần
kinh sau zona. Liệu pháp corticosteroid không nên sử dụng
ở những BN có nguy cơ bị ảnh hưởng
bởi độc tính do corticosteroid (ví dụ những BN
tiểu đường hoặc viêm dạ dày). Liệu pháp
kết hợp valacyclovir hoặc famciclovir với
cortico-steroid được cho là có hiệu quả
tương đương, nhưng chưa được
nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng. Không có khuyến
nghị sử dụng corticosteroid trong zona mà không có liệu
pháp kháng virút song hành.
BN nên giữ các tổn thương da
được sạch và khô nhằm giảm nguy cơ
bội nhiễm vi khuẩn. Đắp một miếng
băng vô khuẩn, không bít hơi, không dính, lên khoanh cảm
giác da (dermatome) bị tổn thương sẽ bảo
vệ các tổn thương khỏi tiếp xúc với y
phục. Đau thần kinh có thể rất nặng và có thể
bị đánh giá thấp. Thuốc chẹn giao cảm có
thể làm dịu tạm thời nhanh chóng cơn đau
nặng (Wu CL, Marsh A. 2000). Đối với cơn đau
dai dẳng, các opioid (thuốc giảm đau trung
ương dạng thuốc phiện) tác dụng dài,
giải phóng có kiểm soát (uống hoặc dán lên da)
được ưa chuộng hơn. Vài mô h́nh dùng
để giải thích cơ chế bệnh sinh của
đau thần kinh hậu zona ám chỉ rằng việc
sớm giảm nhẹ cơn đau cấp tính có thể
ngăn chặn sự khởi động cơ chế
trung ương của đau
kinh diễn, bằng cách đó giảm nguy cơ
đau thần kinh hậu zona (Gnann JW, Whitley RJ. 1991).
Việc điều trị đau thần
kinh hậu zona phức tạp, đ̣i hỏi một
tiếp cận nhiều mặt.
Chọn
lựa điều trị chứng đau hậu zona
|
Thuốc |
Liều
khởi đầu |
Bàn luận |
Những tác
dụng ngoại ư có thể có |
|
Opioids
(các dẫn xuất của thuốc phiện) |
Oxycodone
5mg uống mỗi 6 giờ* |
Liều
toàn bộ 80mg mỗi ngày (hoặc cao hơn) cho những
BN có cơn đau dữ dội. Có khả năng cần
đến |
Gây
ngủ, buồn nôn, choáng váng, bón, quen thuốc, lạm
dụng thuốc |
|
Chống
trầm cảm ba ṿng |
Nortryptylin
hoặc desipramin 10 – 25mg uống lúc đi ngủ* |
Liều
toàn bộ lên đến 75 – 150mg mỗi ngày, amitriptyline
cũng có hiệu quả nhưng có thể kém dung nạp
ở người già; ít có kinh nghiệm với các
chất ức chế tái thu hồi serotonin chọn
lọc |
Gây
ngủ, lú lẫn, các tác dụng kháng Cholinergic (khô
miệng, mờ mắt, bón, bí tiểu) |
|
Gabapentin |
300mg
uống mỗi ngày |
Tăng
liều dần khi cần trong khoảng thời gian 4
tuần lễ, đến một liều toàn bộ hàng
ngày là 3600mg (chia làm 3 lần) |
Buồn
ngủ, choáng váng, thất điều, rung giật (nhăn
cầu) |
|
Capsaicin (dạng
kem 0,025 – 0,075) |
Thoa
tại chỗ 3 – 4 lần mỗi ngày |
Chỉ
thoa lên vùng da nguyên vẹn, đă lành; bắt đầu
với chế phẩm nồng độ thấp, nếu
dung nạp được tăng dần đến
chế phẩm có nồng độ cao; có thể cần
nhiều ngày đến nhiều tuần lễ để
đạt đến kết quả tối đa; có
thể mua không cần đơn thuốc |
Kích
thích da tại chỗ và cảm giác rát bỏng làm hạn
chế việc sử dụng ở nhiều BN |
|
Lidocain
(băng dán 5%) |
Dán
lên vùng bị đau; có thể dùng cùng lúc 3 băng dán trong
một thời gian tối đa là 12g |
Chỉ
nên dán lên vùng da đă lành nguyên vẹn; có thể cắt
băng dán cho hợp với kích cỡ vùng da, giảm
đau nhanh |
Kích
thích da tại chỗ; độc tính toàn thân do việc
hấp thu qua da của lidocain nhưng rất hiếm
gặp |
* Các thuốc
khác cũng có thể sử dụng được
Các thử nghiệm lâm sàng
chứng tỏ rằng opioid; chất chống trầm
cảm 3 ṿng và gabapentin làm giảm được
độ nặng hoặc thời gian kéo dài của đau
dây thần kinh hậu zona, dù dùng một ḿnh hoặc kết
hợp với nhau. Các tác dụng ngoại ư của
những thuốc này có thể hiệp lực, đặc
biệt ở những BN già nua. Dùng băng dán lidocain
hoặc kem capsaicin tại chỗ có thể mang lại
sự dễ chịu cho một số BN (Bernstein JE, et al.
1989: Galer BS, et al. 1999). Trong một nghiên cứu trên các BN
đau dây thần kinh hậu zona không khỏi, tiêm vào khoang
dưới màng nhện của tủy sống myehyl
prednisolon acetat một tuần một lần trong 4 tuần
làm giảm đau đáng kể (Kotani N, et al. 2000). Cần
có thêm dữ liệu để chứng thực những
kết quả bước đầu đầy hứa
hẹn này.
Những
lănh vực chưa xác định
Có
phải mỗi BN zona cần trị liệu kháng virút?
Những BN có nguy cơ cao
nhất bị biến chứng là những người già,
những người bị zona mắt và những BN bị
tổn hại miễn dịch. Tuổi càng lớn, vùng da
tổn thương có diện tích càng rộng, và lúc
đến khám đau càng dữ dội, tất cả là
những chỉ tố tiên đoán của đau dai dẳng
(Harrison RA et al. 1999: Whitley RJ, et al. 1999). Những BN đáp
ứng những tiêu chí này nên được hướng
thẳng vào điều trị. Tất cả những BN
zona mắt nên được trị liệu kháng virút
nhằm mục đích dự pḥng biến chứng mắt.
Vài BS vẫn c̣n xem liệu pháp kháng virút là không bắt buộc
ở những BN trẻ hơn bị zona không biến
chứng, mặc dù liệu pháp có lợi ích và nguy cơ tai
biến rất thấp.
Liệu
pháp kháng virút có thể thành công ở những BN đến
khám sau 72 giờ?
Những nghiên cứu
về thuốc kháng virút đều sử dụng các
thiết kế tương tự nhau. Các BN được
chọn vào nghiên cứu trong ṿng 72 giờ sau khởi phát các
tổn thương. Trên thực tế, các BN thường
đến khám trên 3 ngày sau khi nổi các tổn
thương da, nhưng ít có dữ liệu hướng
dẫn trị liệu trong t́nh huống này. Liệu pháp
kháng virút được khởi đầu càng sớm,
cơ may có đáp ứng lâm sàng càng cao, nhưng một
số BN vẫn có lợi ngay cả khi điều trị
được bắt đầu sau 3 ngày (Wood MJ, et al. 1998;
Decroix J, et al, 2000). Sự hiện diện của các mụn
rộp nổi tương ứng với việc virút c̣n
đang sao chép và đây có thể là một dấu ấn
nhận biết BN có lẽ vẫn được lợi
nếu được trị liệu kháng virút.
Có
thể dự pḥng chứng đau dây thần kinh sau zona?
Mặc dầu nhiều
nghiên cứu cho thấy liệu pháp kháng virút làm giảm
thời gian đau, những thuốc kháng virút không ngăn
ngừa được chứng đau hậu zona (McKendrick
MW, et al. 1989; Jackson JL, et al. 1997; Alper BS, Lewis PR. 2000). Đau
dây thần kinh sau zona vẫn có thể xảy ra trên nhóm
phụ bệnh nhân được điều trị kháng
virút. Trên giả thuyết, kết hợp thuốc kháng virút
với giảm đau, chống trầm cảm cấu trúc
ba ṿng hoặc thuốc chống động kinh ngay lúc
khởi phát zona có thể làm giảm chứng đau dây thần
kinh sau zona (Dworkin RH, Portenoy RK. 1996; Bowsher D. 1997). Những
bước tiếp cận này chưa được
chứng minh hiệu quả nhưng cần được
khảo sát thêm.
Có
thể dự pḥng zona?
Vắcxin chủng OKA
của virút Varicella Zoster hiện được Hiệp
hội tư vấn về Thực hành tiêm chủng
khuyến nghị cho vào diện tiêm chủng phổ quát
ở trẻ em. Loại vắcxin này làm tăng đáp
ứng tế bào lymphô T độc đặc hiệu cho
virút Varicella Zoster ở những người già huyết
thanh dương tính. Liệu việc tăng cường
miễn dịch do vắcxin đem lại có làm giảm
tỷ lệ mắc hoặc giảm độ nặng
của zona ở những người lớn tuổi hay
không đang được khảo sát trong một thử
nghiệm lâm sàng (Oxman MN. 1995).
Hướng dẫn xử trí
Hiện không có một
hướng dẫn xử trí chính thức nào
được ban hành bởi các hội chuyên nghiệp
tại Hoa Kỳ.
Kết luận và khuyến
nghị
Zona có thể xảy ra
ở bất kỳ người nào đă từng bị
thủy đậu nhưng thường gặp hơn khi
tuổi đời càng tăng và ở những BN bị
tổn hại miễn dịch. Chẩn đoán
thường được xác lập trên lâm sàng, nhưng
một xét nghiệm định lượng miễn
dịch huỳnh quang trực tiếp có thể có ích trong
những trường hợp không điển h́nh. Acyclovir,
valacyclovir và famciclovir được chấp thuận trong
điều trị zona. Những thuốc này dung nạp
tốt và tương tự nhau nếu xét riêng về
hiệu lực lẫn tính an toàn. Tuy nhiên, do có các
đặc điểm dược động học
được cải thiện và chế độ
liều dùng đơn giản hơn, valacyclovir và famciclovir
là những thuốc được ưa chuộng hơn
cho điều trị zona. Những BN lớn tuổi,
đặc biệt là những người trên 60 tuổi
đau dữ dội lúc đến khám, là những
người có nguy cơ cao bị bệnh nặng hơn và
có biến chứng, nên được điều trị
kháng virút, giống như BN được mô tả trong
trường hợp minh họa. Bắt buộc sử
dụng liệu pháp kháng virút ở những BN zona mắt,
chủ yếu để dự pḥng các biến chứng
ở mắt có tiềm năng gây mù. Nhằm làm giảm
thời gian kéo dài và độ nặng của các triệu
chứng cấp tính, có thể xét đến một
liệu pháp bổ sung với corticosteroid ở những BN lớn
tuổi nếu không có chống chỉ định nào.
Tiềm năng bị đau nghiêm trọng ở những
BN zona không nên đánh giá thấp và thường sẽ
phải cần đến các loại thuốc giảm
đau mạnh. Không một đơn trị liệu nào
được chứng tỏ có hiệu quả trong điều
trị đau dây thần kinh sau zona. Thường là
phải cần đến một liệu pháp kết
hợp và hội chẩn với một chuyên viên về
điều trị đau.
Theo
Thời Sự Y Dược Học