|
Rối loạn tâm
thần ở phụ nữ mang thai và sau sinh
Ths.Bs. Nguyễn Ngọc Quang
GĐ.TTGĐPY
Tâm Thần
I. Tại sao bị
rối loạn tâm thần trong thai kỳ?
1. Yếu tố
sinh học:
Trong thai
kỳ, cơ thể người phụ nữ có sự thay đổi nội tiết tố liên quan đến thai nhi
như các hormon Estrogen, Progesteron, HCG và có sự gia tăng bài tiết 1 số
hormon tuyến yên, cận giáp, tuyến giáp và hormon buồng trứng. Việc tiết nội
tiết tố nhiều hay ít quá có thể gây ra những rối loạn cảm xúc và tinh thần,
có hại cho sức khỏe và sự thanh thản trí óc. Ví dụ việc tăng tiết quá độ nội
tiết tố tuyến giáp thyroxin có thể làm một người bình thường căng thẳng và
dễ bị cáu gắt…
2. Yếu tố
tâm lý xã hội không thuận lợi như:
mang thai
ngoài ý muốn, mẹ sống độc thân, sự khó khăn thiếu thốn về vật chất,
kinh tế thu nhập kém hoặc không có khi mang thai, thiếu sự quan tâm,
chăm sóc, nâng đỡ từ gia đình, chia sẻ của người chồng, quan niệm sinh con
trai, con gái.
3. Yếu tố
thực thể:
Ngoài ra còn
các yếu tố liên quan trực tiếp như nhiễm trùng, nhiễm độc, can thiệp sản
khoa. Người ta thấy mẹ sốt khi mang thai con dễ bị tự kỷ hoặc tỉ lệ chậm
phát triển tâm thần cao gấp đôi.
II. Làm sao
nhận biết?
1.
Stress cấp và
trường diễn:
biểu hiện bất động, không đáp ứng với ngoại cảnh, sau đó giảm sút trí nhớ,
rối loạn giấc ngủ (khó ngủ, mất ngủ, ác mộng…), có khi hoảng loạn, kích
động, khó tập trung, chú ý, cảm xúc bị giảm sút.
2.
Rối loạn trầm
cảm:
- Trầm cảm
nhẹ: sau khi sinh con khoảng 3-4 ngày người mẹ có thể khóc lóc không rõ
nguyên nhân, mêt mỏi.
- Trầm cảm
nặng: lúc đầu người mẹ cảm thấy lo lắng, sau trở nên buồn rầu, cáu gắt vô
cớ, có những hành vi kỳ quặc đối với người con mới đẻ.
- Bà mẹ có
thể có những hành vi có hại cho thai nhi và chính bản thân mình như hút
thuốc lá, uống rượu, sử dụng ma túy và tăng cân, thường gặp ở bà mẹ ít chú ý
chăm sóc bản thân, ít khám thai định kỳ, ăn uống không đủ chất.
3.
Rối loạn ăn
uống:
chứng ăn vô độ, chán ăn tâm thần hoặc xen kẽ cả hai.
4.
Lú lẫn, hoang
tưởng cấp:
Thường xảy ra trong khoảng 20 ngày đầu. Tiến triển nhanh từ ngày thứ 3, đột
ngột xuất hiện tình trạng lú lẫn, hoang tưởng (có thể cả mê mộng) tăng về
chiều tối. Có thể gặp hoang tưởng bị hại, đôi khi kèm trầm cảm-lo âu.
5.
Rối loạn
hành vi:
Thường sau khi sanh 2 tuần , sản phụ có biểu hiện như buồn rầu, khóc lóc vô
cớ, mất định hướng về không gian và thời gian, lo lắng quá mức vì sợ mắc
bệnh hiểm nghèo, ít chú ý đến vệ sinh cá nhân, ăn mặc lôi thôi, hành vi thô
bạo, xúc phạm người xung quanh. Nặng hơn, người mẹ có thể bỏ mặc con, hành
hạ con thậm chí giết hại hoặc tự sát. Sau khi bệnh ổn định thì người bệnh
cũng không nhận thức việc mình đã hành động.
6.
Các dấu hiệu
khác:
Thường gặp là lo âu nhẹ, chóng mặt, tức ngực, sợ chết khi đẻ, sợ sinh con
bệnh tật... Các triệu chứng này có thể giảm ở tháng thứ 4 và tái xuất hiện
trạng thái lo âu trước khi sanh. Ngoài ra có thể gặp các rối loạn mang tính
chất tâm căn như nôn, buồn nôn, nhất là mẹ mang thai trong 3 tháng đầu; một
số khác thì tăng tiết nước bọt. Còn gặp tăng huyết áp do tăng bài tiết
Aldosterol và Estrogen, do tăng lưu lượng máu đến 30% trong những tháng cuối
thai kỳ.
III. Mức độ
ảnh hưởng trên thai
1. Rối
loạn stress cấp và trường diễn:
có thể xảy ra
ở bất kỳ thời điểm nào trong thời gian mang thai và dễ làm tăng nguy cơ tử
vong sơ sinh, nhưng trong thực tế lại ít được mọi người chú ý đến.
Nguy cơ bị stress có thể gây tác hại lập tức và lâu dài cho thai như dễ sinh
non, thai chết lưu - hay gặp ở 3 tháng đầu thai kỳ. Nếu stress xảy ra ở 3
tháng cuối thường có nguy cơ sinh con nhẹ ký.
2. Rối
loạn stress sau sang chấn tâm lý (PTSD):
dễ có nguy cơ cao thai bị lạc chỗ (thai ngoài tử cung), sảy thai, nôn nhiều
và chuyển dạ sớm.
3. Rối
loạn trầm cảm:
thường liên
quan đến các tai biến như sảy thai, chảy máu trong thai kỳ, sức đề kháng
động mạch tử cung cao và gia tăng nguy cơ sinh mổ.
4. Rối
loạn ăn uống:
Bệnh nhân mắc
chứng chán ăn vô độ dễ có nguy cơ sảy thai cao gấp 2 lần, hoặc thai nhẹ ký,
nếu mắc chứng ăn vô độ thì có nguy cơ cao về đái tháo đường.
5. Rối
loạn hoảng loạn:
Nguy cơ cao về chuyển dạ sớm và sinh non, đa ối, thiếu máu, thời gian mang
thai tương đối ngắn (sảy thai, sinh non).
6. Rối
loạn lưỡng cực trong giai đoạn hưng cảm:
tuy hiếm gặp
nhưng ảnh hưởng đến thai nhi do nguy cơ gia tăng hoạt động tình dục, hoạt
động thể lực quá mức, hoặc lạm dụng ma túy.
7. Thai
phụ mang thai mà mắc bệnh tâm thần phân liệt kèm các bệnh lý mạn tính như:
cao huyết áp, đái tháo đường sẽ làm bệnh trầm trọng hơn; ngoài ra cũng làm
tăng nguy cơ sinh non, thai chết lưu, thai nhẹ ký, hoặc khiếm khuyết về tim
mạch.
8. Những
rối loạn tâm thần sau khi sanh:
- Lú lẫn,
hoang tưởng cấp hoặc rối loạn hành vi: dẫn đến bỏ bê không chăm sóc bản thân
và/hoặc đứa con, hoặc giết hại con.
III. Vấn đề
điều trị:
1. Đối với
các rối loạn tâm căn thời kỳ mang thai:
Ba tháng đầu tránh dùng các thuốc chống trầm cảm, giải lo âu nếu không có
chỉ định của bác sĩ. Thai phụ cần được nâng đỡ bằng các liệu pháp tâm lý, và
liệu pháp gia đình. Về mặt này vai trò của người chồng rất quan trọng
2. Đối với
các trường hợp loạn thần sau đẻ - lú lẫn, hoang tưởng:
dùng thuốc theo chỉ định, và phải tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn của bác sĩ.
Lưu ý nguy cơ tự sát và giết con của sản phụ.
4. Các
biện pháp cần thiết:
Nhập viện,
tách mẹ và con (để đảm bảo an toàn cho con), loại trừ các nguyên nhân
phụ khoa (sót nhau, nhiễm trùng...). Khi trạng thái của mẹ đã thuyên giảm
cần cho gặp con trước sự giám sát y tế để tái lập mối quan hệ mẹ-con. Nếu
điều kiện cơ sở cho phép, nên cho cả mẹ lẫn con cùng nằm viện.
5. Sự ảnh
hưởng của thuốc điều trị rối loạn tâm thần với thai nhi:
- Việc dùng
thuốc để điều trị rối loạn tâm thần đương nhiên có ảnh hưởng đến thai nhi.
Vấn đề ở chỗ khi bị bệnh tâm thần, nhiều phụ nữ vẫn muốn sinh con hoặc mang
thai ngoài ý muốn, cần phải thảo luận với bác sĩ chuyên khoa tâm thần đang
theo dõi và điều trị cho mình.
- Điều cần
thiết phải ngừng sử dụng thuốc ít nhất 1 tháng trước thời điểm có thể thụ
thai. Tốt nhất nên tránh sử dụng thuốc trong 3 tháng đầu của thai kỳ vì đây
là thời kỳ quan trọng nhất liên quan đến quá trình hình thành và phát triển
các cơ quan trong bào thai.
- Khi mẹ dùng
thuốc hướng thần (sau đẻ) thì không cho con bú vì thuốc hướng thần qua được
sữa mẹ.
IV. Phòng
ngừa như thế nào?
Trước khi có
con, các cặp vợ chồng cần được hướng dẫn về tình trạng sức khỏe, nhu cầu tâm
lý của người mẹ trong giai đoạn thai kỳ và hậu sản, cách chăm sóc em bé để
người chồng có thể hỗ trợ vợ một cách tốt nhất. Người mẹ nên đi khám thai
định kỳ và cần được theo dõi trong thời kỳ hậu sản.
Trong thời
gian mang thai và sau sanh, nếu người phụ nữ có rối loạn nhẹ, chồng và người
thân cần quan tâm, động viên để họ vượt qua giai đoạn khó khăn. Thai phụ nên
nghỉ ngơi và làm việc nhẹ nhàng. Nếu có các rối loạn tâm thần nặng cần đưa
thai phụ đến khám tại cơ sở chuyên khoa tâm thần để được theo dõi, trị liệu.
Sau sanh nên
chọn thời điểm thích hợp để cho mẹ gần con và chăm sóc con, và phải có sự
theo dõi, giúp đỡ của thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, tâm lý trị liệu. Khi
có rối loạn hành vi kích động dữ dội hoặc trầm cảm nặng cần nhập viện để
được điều trị, cách ly đảm bảo an toàn cho con. Khi bệnh tạm ổn, người mẹ
cần được nâng đỡ để tránh mặc cảm. Nếu mẹ dùng thuốc hướng thần không cho
con bú mẹ.
Cần phòng
ngừa và loại trừ các nguyên nhân sản phụ khoa (nhiễm trùng, sót nhau). |