Mướp đắng (khổ qua)

Mướp đắng (khổ qua)

DS. Lê Văn Nhân, Trần Việt Hưng, TS. Nguyễn Đức Thái

 

Giới thiệu:

Khổ là đắng, qua là dưa hay mướp. Nói văn vẻ là khổ qua, nhưng thực chất là mướp đắng. Người Mỹ gọi là bittermelon, và đôi khi gọi là butter gourd v́ chữ gourd cũng có nghĩa là quả bầu hay bí. Tên La tinh momordica dịch sang tiếng Anh là “bite” có nghĩa là cắn, ngoạm để mô tả hạt bị khuyết vào như dấu răng cắn. Từ charantia để mô tả quả mướp đắng đầu nhọn. Tên momordica c̣n thấy ở một số cây khác:

- Momordica cochinchinesis: quả gấc

- Momordica luffa: mướp hương

- Momordica grosvenori: la hán quả

Hạt quả gấc lồi lơm giống như định nghĩa, nhưng hạt mướp đắng không thấy như vậy. Do đó ai rành về phân loại thực vật vui ḷng cho thêm ư kiến về tên la tinh của cây này.

Mặc dầu gốc ở Á Châu, nhưng mướp đắng hiện nay có mặt khắp nơi vùng ấm như vùng biển West Indies phía dưới Florida, Phi Châu, Ấn Độ… Sách y học cổ truyền Trung Quốc không có mướp đắng, nhưng mấy năm gần đây trà mướp đắng khô đă được bày bán ở các chợ Việt Nam cho những người bị tiểu đường uống. Mặt khác, năm 1990, Liên Hiệp Quốc phát hành bộ tem dược thảo, mỗi con tem là một cây thuốc được Liên Hiệp Quốc cho là có giá trị chữa bệnh trên thế giới, mướp đắng được chọn làm một trong 6 cây tiêu biểu. Tem mướp đắng được phát hành ở Áo quốc. Như vậy cây này phải có giá trị trị liệu đáng cho chúng ta t́m hiểu.

Giá trị dinh dưỡng:

Người Việt Nam thường xắt lát quả mướp đắng chưa già, ngâm vào nước muối để giảm chất đắng, đem nấu canh hay làm món xào. Người Tàu thích nhồi thịt xay vào ruột quả mướp rồi đem hầm.

Theo tài liệu của Viện Đại học Purdue về các loại rau quả Á Châu hội nhập vào Mỹ (Willsetal 1984), thành phần dinh dưỡng tính bằng gam trong 100g quả mướp đắng như sau:

- Phần ăn được 84

- Nước 93,8

- Protein 0,9

- Chất béo 0,1

- Carbohydrate 0,2

- Vitamin A (mg): 0,04 – Vit.B1: 0,05, - Vit.B2: 0,03,
 Niacin: 0,4, - Vit.C: 50, - Calcium: 22, - K: 260, - Mg: 16, Fe: 0,9

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học toàn cây, quả và hạt được phân chất và mô tả như sau:

Glycosid: momordicin và charantin. Charantin là một hỗn hợp steroid làm hạ đường. Một glycosid khác gốc pyrimidin được t́m thấy. Ngoài ra c̣n có allkaloid momordicin và dầu thực vật.

Một peptid giống insulin hạ đường tên “polypeptid-P” có trong mướp đắng. Chất này được cô lập từ quả, hạt và các mô trong thân cây và có phân tử lượng 11.000. Đă có nghiên cứu về tinh chất hạ đường của mướp đắng.

Hạt mướp đắng chứa 32% dầu với các acid béo stearic, limoleic, oleic. Hạt cũng chứa nucleosid pyrimidin vicine. Glycoprotein alpha-momorcharin và beta-momoecharin ( tác dụng phá thai) và lectin. Thành phần acid amin trong hạt cũng được mô tả kỹ. Những phân tử giống insulin cũng được t́m thấy trong hạt.

Dược tính:

Khả năng hạ đường huyết: được nghiên cứu, chứng minh ở thú vật và người.

Thành phần tạo ra tính hạ đường trong mướp đắng gồm charantin, Polypeptid-P và Vicine. Cơ chế tác dụng bao gồm  gồm giảm đường huyết và cải thiện dung nạp glucose.

Nghiên cứu hạ đường ở thú vật được thực hiện ở chuột và thỏ cải thiện dung nạp glucose, giữ được tính hạ đường sau khi ngưng dùng mướp đắng 15 ngày đồng thời giảm luôn cholesterol.

Cơ chế đề nghị là tạo được tế bào beta, tăng hấp thụ glucose vào mô, tổng hợp glycogen trong gan và cơ bắp, tạo triglyceride trong mô mỡ và tân tạo glucose (gluconeogenesis). Một báo cáo khác đưa ra cơ chế tăng sử dụng đường trong gan thay v́ tăng tiết insulin. Nghiên cứu enzym gan chứng minh hoạt động hạ đường của mướp đắng không cải thiện dung nạp đường ở chuột, nhưng ức chế thành lập glucose trong máu do ức chế enzym glucose-6-phosphstase và fructose-1, 6-biphosphatase, đồng thời tăng cường oxưt hóa glucose qua lối G6PDH. Tác dụng hạ đường cũng có sự tham dự của cytochrome P450 và glutathiose-S-transferase ở gan chuột bị bệnh tiểu đường. Một báo cáo cho thấy mướp đắng làm chậm tiến tŕnh bệnh vơng mạc (biến chứng bệnh tiểu đường) ở chuột bị tiểu đường khi uống cao quả mướp đắng. Nhưng ít nhất cũng có một nghiên cứu trên động vật không thấy tác dụng hạ đường ở chuột bị bệnh tiểu đường khi cho uống dạng bào chế đông khô mướp đắng trong 6 tuần.

Mướp đắng cải thiện dung nạp đường ở người. Một nghiên cứu thực hiện ở 18 người tiểu đường loại II thành công 73% khi dùng nước ép mướp đắng. Một báo cáo khác cho biết giảm 54% lượng đường sau bữa ăn, và giảm 17% lượng hemoglobin A1C ở 6 bệnh nhân dùng 15g dịch chiết mướp đắng. Thử nghiệm dùng nước ép tươi quả mướp đắng ở 160 bệnh nhân kiểm soát được bệnh tiểu đường. Mướp đắng không làm insulin tiết ra nhưng tăng sử dụng carbohydrate. Phytomedicine năm 1966 mô tả tính chữa bệnh tiểu đường của mướp đắng trong ống nghiệm, trên thú vật và người, cơ chế tác dụng và thành phần hóa học của mướp đắng.

Tính kháng khuẩn: Cao rể và lá có tính kháng khuẩn.

Một nghiên cứu báo cáo cao mướp đắng có tính trụ tế bào 33,4% và momorcharin có tính chống u bướu và có thể ức chế tổng hợp protein. Tương tự, cây ức chế sinh sản siêu vi gồm polio, herpes simplex I và HIV. Một nghiên cứu mướp đắng kháng khuẩn pseudomonas nhưng không hứa hẹn trong toàn nghiên cứu. Tính chống siêu vi cũng được tái xét.

Tính độc hại di thể (gemotoxic effects):

Mướp đắng phá hoại di thể Aspergillus mudulans và độc với tế bào ung thư máu.

Tính chống thụ thai:

Một protein trong cây mướp đắng có hoạt tính chống sinh sản ở chuột đực. Uống cao quả mướp đắng 1,7 gam/ngày làm tinh hoàn chó đực bị thương tổn và giảm khả năng sinh tinh trùng. Ở chuột cái, tác dụng chống khả năng thụ thai thuận nghịch. Momorcharin có khả năng làm hư thai. Chuột và thỏ có thai bị xuất huyết tử cung khi uống nước mướp đắng, nhưng không xảy ra ở chuột không có thai. Quả chín được bảo có tính sinh kinh nguyệt.

Những tính chất khác:

Tính giảm đau và chống viêm phụ thuộc liều lượng thấy ở chuột như đầy hơi, loét, khó tiêu, táo bón, kiết lỵ hay trĩ.

Chữa các bệnh ngoài da như nhọt, phỏng, nhiễm trùng, ghẻ, bệnh vẩy nến.

Mướp đắng c̣n dùng như là chất diệt côn trùng, và có tính hạ áp huyết.

Độc tính:

Quả mướp đắng chưa già dùng làm thức ăn. Cao mướp đắng được xem là không độc. Mướp đắng tương đối lành ở liều thấp và không dùng quá 4 tuần. Chưa có báo cáo nào về tác dụng nguy hiểm của cao mướp đắng ở liều 50 ml. Nói chung, mướp đắng có mức độc tính lâm sàng thấp, có thể có vài xáo trộn về đường tiêu hóa.

V́ tính chất hạ đường huyết, nên dè dặt khi người bệnh đă có triệu chứng đường xuống quá thấp. Hai em nhỏ đă bị hôn mê v́ đường xuống thấp sau khi uống trà mướp đắng. Cả hai đều hồi phục sau khi chữa trị. Một báo cáo khác đường hạ thấp sau khi một phụ nữ 40 tuổi bệnh tiểu đường bị nguy hiểm đường xuống thấp sau khi uống chlorpropamid và ăn cà ri (có mướp đắng trong bột cà ri). Lớp màng đỏ bao quanh hạt mướp đắng độc cho trẻ con. Nước ép quả mướp đắng đă làm một em nhỏ bị nôn mửa, tiêu chảy và chết.

Mướp đắng có thể độc hại cho tế bào gan ở thú vật, enzym gan tăng cao sau khi dùng mướp đắng. Các chất trong mướp đắng có khả năng thay đổi h́nh dáng tế bào gan.

Hạt mướp đắng chứa một chất tên vicine, là một độc tố có khả năng gây ngộ độc tầm đậu (favism), một hội chứng cấp tính gồm nhức đầu, đau thắt bụng và hôn mê.

Mướp đắng không nên dùng cho phụ nữ có thai v́ độc hại cho hệ sinh sảnh, kể cả làm tử cung xuất huyết và co thắt làm hư thai.

Tóm tắt và bàn luận:

Mướp đắng là một loại quả nhiệt đới dùng làm thức ăn, nhưng cũng được dùng làm thuốc ở các nước Đông Nam Á như Ấn độ và ngay cả Phi Châu, tác dụng giảm đường huyết rơ ràng đồng thời với tính kháng khuẩn và chống sinh sản.

Mướp đắng có khả năng tiềm tàng chống ung thư và chống siêu vi như HIV và HSV. Đây là điều các bạn trẻ Việt Nam trong ngành nghiên cứu nên chú ư khai triển.

Nghiên cứu ở người cho thấy mướp đắng có thể dùng làm thuốc chữa bệnh tiểu đường. Một bác sĩ tự nhiên học (Naturopathy) tại Portland Oregon cho biết dùng sản phẩm bào chế tại Đức cho kết quả tốt với người bị tiểu đường. Điều cần thiết là làm sao tiêu chuẩn hóa để các mẻ sản xuất có công hiệu giống nhau. Đây là trách nhiệm của các đại học y dược tại Việt Nam và Viện Dược Liệu Việt Nam. Hoạt chất trong mướp đắng thay đổi tùy theo thổ nhưỡng, khí hậu, giai đoạn thu hái, nên tiêu chuẩn hóa là điều cần thiết. Phải chứng minh là uống trà khô mướp đắng và dùng dịch chiết mướp đắng có ǵ khác biệt nhau trên phương diện lâm sàng. Có thể tác dụng hạ đường ở toàn cây hay toàn quả mướp đắng chứ không hẳng ở một hoạt chất, làm sao định được chất nào phản ảnh trung thực nhất tiềm năng hạ đường của cây mướp đắng để tiêu chuẩn hóa.

Độc tính ở người lớn thấp, nhưng có vấn đề với trẻ em. Mặc dầu chưa nghe quả mướp đắng nguy hiểm cho bào thai tại Việt Nam, nhưng những nghiên cứu trên cho thấy hạt mướp đắng có thể làm hư thai và quả mướp đắng có khả năng gây đột biến gene. Do đó không nên dùng cho phụ nữ có thai../.

Nguồn: Bản tin Hội Dược học TPHCM – quư II/2009