Một số bệnh cơ xương khớp thường gặp
trên bệnh nhân đái tháo đường

 

BS. Thái Thị Hồng Ánh

TK Nội cơ xương khớp – BV. Nguyễn Tri Phương

 

            Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh măn tính khá phổ biến (tỷ lệ khoảng 2 - 8% dân số). Là bệnh măn tính và có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan cũng như nhiều chức năng của toàn bộ cơ thể, do đó, bên cạnh bệnh ĐTĐ, người bệnh cũng đồng thời đến khám tại các cơ sở y tế v́ một số bệnh khác, trong đó có không ít các bệnh về cơ xương khớp. Trong khuôn khổ bài nói chuyện này, với tư cách là một người làm chuyên khoa xương khớp, chúng tôi xin được lược qua sơ nét về một số bệnh xương khớp được coi là có liên quan ít nhiều đến bệnh ĐTĐ. Điều đó có nghĩa không phải bản thân bệnh ĐTĐ là thủ phạm gây nên các bệnh lư này nhưng nó là một trong những yếu tố góp phần thúc đẩy bệnh xuất hiện sớm hơn, nặng hơn hoặc tiến triển nhanh hơn, cùng với những tác nhân khác như: tuổi tác, chấn thương, nghề nghiệp, môi trường kinh tế xă hội…

            Riêng nhóm bệnh xương khớp thật sự do hậu quả của ĐTĐ, mặc dù chỉ xảy ra khoảng 5 – 15% bệnh nhân (BN) ĐTĐ nhưng lại cần được quan tâm v́ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của người bệnh do những tác hại của nó đến khả năng lao động, nhu cầu sinh hoạt, cũng như về thẩm mỹ, tinh thần…

            Người ta nhận thấy tỷ lệ các bệnh này làm tăng thuận chiều với tuổi BN, thâm niên của bệnh ĐTĐ, và sự mất quân b́nh thường xuyên của đường huyết.

I. Phân loại

A. Nhóm bệnh có mối liên quan với ĐTĐ:

            1. H/C đường hầm (H/C ống cổ tay; H/C GuyonL H/C ống cổ chân):

            Người bệnh có triệu chứng tê rần ở bàn tay hoặc bàn chân. Cảm giác tê càng tăng lên khi BN trong tư thế buông thơng tay (hay chân), gập vùng cổ tay, cổ chân trong nhiều giờ liền. Đây chính là biểu hiện bị chèn ép thần kinh ở khu vực cổ tay, cổ chân mà giới chuyên môn gọi là hội chứng ống cổ tay, hay ống cổ chân tùy theo vị trí bệnh.

            Cảm giác đau hoặc tê theo vị trí các dây thần kinh ngoại vi cũng thường được ghi nhận trên y văn.

            2. Bệnh Dupuytren:

            Các gân gấp ở ḷng bàn tay dày lên (bệnh Dupuytren) khiến bàn tay và các ngón bị co rút, cong quặp lại như bàn chân chim. Nguyên nhân của t́nh trạng này là do các chấn thương rất nhỏ, kín đáo, xảy ra trên người bị ĐTĐ có sẵn biến chứng mạch máu nhỏ, các tổn thương ở gân trở thành sẹo xơ và làm cho gân rút lại dần. Bệnh thường tiến triển âm thầm, lúc đầu không gây đau đớn, BN chỉ có cảm giác khó khăn khi co duỗi ngón tay bị bệnh cho đến khi ngón tay hoàn toàn cong gập và đau buốt. Tổn thương gây xơ hóa và co rút cũng có thể xảy ra ở bàn chân (bệnh Ledderhose) và thể hang bộ phận sinh dục nam (bệnh La Peyronie). Việc điều trị các trường hợp này tương đối khó khăn và thường cho kết quả không như ư cho dù phải nhờ đền bàn tay khéo léo của các bác sĩ phẫu thuật chỉnh h́nh.

Bệnh Dupuytren

            3. Ngón tay ḷ xo:

            Một dạng tổn thương khác cũng ở gân gấp các ngón tay, nhưng nhỏ hơn và đáp ứng khá tốt với các phương pháp điều trị bảo tồn hoặc phẫu thuật. Gọi là ngón tay c̣ súng v́ BN không thể dễ dàng mở bung ngón tay ra một khi đă cố gắng gập vào và sẽ có cảm giác phải vượt qua nút chặn như khi bóp c̣ súng khi muốn duỗi ngón tay ra sau đó.

Ngón tay c̣ súng

            4. Bệnh De Quervain (viêm gân dang ngón cái):

            BN ĐTĐ cũng thường đến với chúng tôi trong t́nh trạng bị sưng đỏ ở cồ tay và rất đau khi làm những công việc thông thường như vắt quần áo, vặn tay ga xe máy, hay cầm vật nặng.

            5. Bệnh loăng xương:

            Trong một số nghiên cứu, người ta nhận thấy mật độ xương (yếu tố quyết định độ cứng chắc của xương) của BN ĐTĐ thường thấp hơn nhóm người b́nh thướng từ 20 – 30% mặc dù tần suất găy xương giữa hai nhóm không có nhiều khác biệt. Nhưng, như chúng tôi đă nói ở trên, bệnh ĐTĐ tồn tại cùng ới tuổi tác BN, v́ vậy yếu tố suy giảm của mật độ xương theo thời gian, cùng với sự mất quân b́nh thường xuyên về dinh dưỡng, kém vận động do bệnh tật, đều là những yếu tố thuận lợi góp phần đẩy nhanh quá tŕnh lăo hóa của khung xương và gây ra bệnh loăng xương. Bản thân t́nh trạng loăng xương là một hệ quả tất yếu của đời sống và BN có thể chịu đựng được nếu như các biến chứng như đau xương, găy xương, lún đốt sống… không xảy ra khiến BN không thể tự túc được sinh hoạt tối thiểu như đi lại, vệ sinh cá nhân, tự ăn uống. Việc nằm liệt giường do găy xương, đặc biệt là găy cổ xương đùi, lại dẫn đến một hậu quả khác rất nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong đối với BN ĐTĐ, đó là nguy cơ nhiễm trùng.

  (T) Đốt sống bị loăng xương
  (P) Đốt sống b́nh thường

H́nh ảnh "c̣ng lưng"  của loăng xương

            6. Nhóm bệnh biểu hiện ở khớp và tổ chức quanh khớp:

            BN ĐTĐ cũng thường đến với chúng tôi v́ viêm đau các khớp do nhiều nguyên nhân khác nhau, thường gặp nhất là khớp vai va bao quanh khớp vai.

            Do cơ địa kém đề kháng của người bệnh ĐTĐ vi trùng có thể tấn công vào khớp, sau khi BN chích lễ, châm cứu hoặc bị một vết trầy sước nhỏ, một khi đă xảy ra, đây là một bệnh lư nặng và phức tạp, có thể để lại hậu quả nặng nề nếu không được điều trị kịp thời và đầy đủ (tàn phế hoặc có thể tử vong do nhiễm trùng huyết). Việc điều trị cũng rất tốn kém v́ phải dùng kháng sinh phối hợp trong một thời gian khá dài so với những bệnh cảnh nhiễm trùng khác (3 tuần đến 2 tháng tùy trường hợp).

            Ngoài ra, t́nh trạng ứ đọng acid uric, dưới dạng tinh thể, đặc biệt tại khớp cũng sẽ gây ra viêm khớp (bệnh gút, hay c̣n gọi là bệnh thống phong). Đây là hậu quả của một quá tŕnh rối loạn chuyển hóa chất đạm (protid) xảy ra đồng thời với rối loạn chuyển hóa glucid (bệnh ĐTĐ) và càng dễ dàng xảy ra trên BN ĐTĐ không kiểm soát được đường huyết. Biểu hiện đặc trưng của bệnh là những đợt sưng đau khớp ngón chân cái, hoặc một vài khớp lớn khác như khớp gối, cổ chân, khuỷu, bàn tay… Nếu tinh ư, BN sẽ nhận ra bệnh thường xuất hiện sau những bữa ăn thịnh soạn, với những món ăn giàu chất đạm gốc purin chứa trong các loại thịt màu đỏ sậm như thịt ḅ, heo, hai, hải sản, gan, cật, và các loại bia rượu.

Viêm khớp ngón chân cái do bệnh Gút

B. Nhóm bệnh khớp là biến chứng của bệnh ĐTĐ

            1. Bệnh khớp thật sự do ĐTĐ gây ra chỉ chiếm khoảng 5 – 15$, nhưng để lại những hậu quả đôi khi rất nặng nề. Đối tượng chủ yếu là BN bị bệnh lâu năm (trên 10 năm) và có mức đường huyết thường xuyên không ổn định. Bệnh thường gặp ở vùng bàn chân là khu vực thường bị thiếu máu nuôi dưỡng. Đây là một biến chứng nặng của bệnh ĐTĐ do tổn thương thần kinh, từ đó gây co rút gân cơ, di lệch khớp xương bàn chân, mất cảm giác và tổn thương xương khớp. Đặc điểm của bệnh khớp do ĐTĐ là BN không cảm thấy đau hợac đau rất ít nhưng tổn thương xương khớp lại rất nặng nề trên phim Xquang, chụp cắt lớp… Bàn chân ngày càng biến dạng, khiến cho người bệnh khó đi lại, dễ bị va vấp, dễ bị trầy sướt chấn thương. V́ ít cảm thấy đau đớn nên các vết thương này dễ dàng bị BN không quan tâm chăm sóc đúng mức cho đến khi trở nên một vết loét lớn, rất khó chữa lành, thậm chí có nguy cơ bị cắt bỏ một ngón, một phần hay cả một bàn chân.

            2. Biến chứng mạch máu ở chi dưới cũng có thể gây ra t́nh trạng hoại thư khiến cho BN có nguy cơ phải chịu tàn phế v́ phải phẫu thuật đoạn chi.

 

Bàn chân biến dạng của BN ĐTĐ    

  Ổ loét lớn dưới ngón chân cái

            Bàn tay của người bị ĐTĐ typ một lâu năm cũng thường bị co rút, da ḷng bàn tay trở nên dày, thô cứng và khum khiến BN không thể làm được những động tác đ̣i hỏi duỗi thẳng ḷng bàn tay và các ngón tay.

            T́nh trạng teo cơ cũng rất thường xảy ra, đặc biệt ở các khối cơ lớn vùng lưng, mông, đùi.

Bàn tay tiểu đường

II. Một số đặc điểm trong chiến lược điều trị

            Một khi biến chứng, đặc biệt là bàn chân ĐTĐ đă xảy ra th́ khả năng hồi phục là rất khó. V́ thế, vấn đề pḥng ngừa luôn được đặt ra như một ưu tiên hàng đầu.

            Vấn đề điều trị lại không chỉ thuộc phạm vi trách nhiệm của người bác sĩ chuyên khoa nội tiết mà c̣n là vấn đề chung của nhiều chuyên khoa như: nội tiết, khớp học, chỉnh h́nh, vật lư trị liệu, nhà chuyên khoa đóng giày chỉnh h́nh, điều dưỡng, và của chính BN, gia đ́nh, và sự quan tâm của xă hội.

            V́ vậy, hiện nay, các câu lạc bộ BN đă được lập ra và nhanh chóng nhân rộng nhằm làm tăng thêm khả năng pḥng ngừa những biến chứng đáng tiếc của bệnh. Ngoài ra, một chương tŕnh pḥng chống bệnh ĐTĐ cấp quốc gia cũng đă và đang góp phần trong việc cải thiện tỷ lệ sống c̣n và bảo đảm chất lượng sống cho người bệnh ĐTĐ, vốn rất mong manh về thể chất và dễ tổn thương về tâm lư v́ bệnh tật đeo  đẳng.

III. Một số khuyến cáo

            - Việc ổn định đường huyết được coi là yếu tố quyết định trong việc pḥng ngừa các biến chứng xương khớp cũng như các biến chứng ở những cơ quan khác của bệnh ĐTĐ. Điều này chỉ thực hiện được khi BN kết hợp được các biện pháp điều trị (thuốc, chế độ ăn uống và sinh hoạt) một cách bài bản và có hiệu quả. Việc chăm sóc bàn chân cũng cần được quan tâm một cách đặc biệt và thực hiện có hệ thống như sau:

·    Luôn giữ bàn chân sạch sẽ, khô ráo, đặc biệt là vùng kẽ ngón chân (dùng kem chống ẩm hay phấn talc tùy trường hợp là tùy vị trí).

·    Thường xuyên quan sát và kiểm tra bàn chân để kịp thời phát hiện những tổn thương hay bất thường dù nhỏ như: nốt chai, trầy xước, sưng, đau… không nên tự cắt nốt chai hay mụn cóc, nhất là ở nơi ẩm ướt như nhà tắm.

·    Không cắt móng chân bằng vật sắc nhọn như dao, kéo, móng cắt ngang, không cắt khóe…

·    Không đi chân đất dù ở trong nhà.

·    Mang giày dép vừa vặn, êm ái, mềm mại và phù hợp (vớ, kiểu giày, mục đích sử dụng…). Giày thể theo được khuyên dùng khi chân chưa biến dạng nhiều. Trong trường hợp chân đă biến dạng nhiều cần phải đặt riêng giày với h́nh dáng và chất liệu phù hợp. Không nên mang giày dép gót cao, mũi nhọn. Phải thay đổi để làm vệ sinh giày dép ít nhất 2 lần mỗi tuần.

·    Trong trường hợp BN già yếu hay có vấn đề về mắt, tay… thân nhân được huấn luyện để chăm sóc và theo dơi.

·    Tư vấn bác sĩ chuyên khoa nội tiết hay chuyên khoa khớp ngay khi phát hiện những bất thường.

Giày thể thao có miếng lót tháo rời dễ thay, và giặt

Giày sandal dành cho người có loét ở gót và ngóng chân

Một số điều nên làm và không nên làm đối với BN ĐTĐ

Nên

Không nên

1. Tác dụng thường xuyên lượng đường trong máu.

2. Điều trị ngay những bệnh khác kèm theo

3. Có chế độ sinh hoạt - luyện tập và nghỉ ngơi hợp lư.

4. Chăm sóc bàn chân.

5. Đến bác sĩ ngay khi:

            - Sưng, đau.

            - Mất cảm giác hay tê b́.

            - Thay đổi màu da bất thường.

            - Vết thương bàn chân.

            - Giảm hoặc mất khả năng cử động một chi

1. Thói quen có hại:

            - Ăn uống: không điều độ, khẩu phầm mất cân đối.

            - Sinh hoạt: quá sức hoặc quá thụ động, vệ sinh kém.

            - Lối sống: thuốc lá, càphê, rượu…

2. Dùng chung những dụng cụ có nguy cơ tổn thương (dụng cụ cắt móng, dao cạo…).

3. Tự ư sử dụng thuốc.

4. Chích lễ, châm cứu, cắt khóe, tự cắt chai, mụn cóc…

 

Để kết luận, thêm một lần nữa chúng tôi xin được lưu ư việc theo dơi thường xuyên và ổn định lượng đường trong máu luôn cần thiết trong mọi trường hợp và trong bất kỳ giai đoạn nào của bệnh. Bệnh lư xương khớp, đặc biệt trên người bệnh ĐTĐ, một khi đă xảy ra th́ thường rất đa dạng, nhiều nguyên nhân, và diễn biến khá phức tạp. Vấn đề điều trị cũng v́ thế khác nhau tùy theo nguyên nhân và cơ chế gây bệnh, hiệu quả lại hạn chế. Do đó, việc pḥng ngừa và hạn chế các biến chứng là rất quan trọng. Về phía BN, cần có sự quan tâm tự theo dơi, và khi phát hiện có bất thường, nên đến tư vấn để được thăm khám kịp thời tại các cơ sở y tế và bác sĩ chuyên khoa.